Thứ Năm, 12 tháng 8, 2021

Phân tích đồng vị ổn định trong khảo cổ học

Stable Isotope Analysis in Archaeology

Đồng vị ổn định và cách thức nghiên cứu

Cập nhật ngày 09 tháng 10 năm 2018, bởi K. Kris Hirst

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Stable Isotope Analysis in Archaeology." ThoughtCo, Oct. 29, 2020, thoughtco.com/stable-isotope-analysis-in-archaeology-172694. https://www.thoughtco.com/stable-isotope-analysis-in-archaeology-172694

Lược dịch: NHN

Phân tích đồng vị ổn định là một kỹ thuật khoa học được các nhà khảo cổ học và các học giả khác sử dụng để thu thập thông tin từ xương động vật nhằm xác định quá trình quang hợp của thực vật mà nó tiêu thụ trong suốt thời gian tồn tại của nó. Thông tin đó vô cùng hữu ích trong nhiều ứng dụng, từ việc xác định thói quen ăn uống của tổ tiên loài người cổ đại đến truy tìm nguồn gốc nông nghiệp của cocaine bị thu giữ và sừng tê giác bị săn trộm trái phép.

Đồng vị ổn định là gì?

Tất cả trái đất và bầu khí quyển của nó được tạo thành từ các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau, chẳng hạn như oxy, carbon và nitơ. Mỗi nguyên tố này có một số dạng, dựa trên trọng lượng nguyên tử của chúng (số nơtron trong mỗi nguyên tử). Ví dụ, 99% tất cả các-bon trong bầu khí quyển của chúng ta tồn tại ở dạng được gọi là Carbon-12; nhưng một phần trăm carbon còn lại được tạo thành từ hai dạng carbon hơi khác nhau, được gọi là Carbon-13 và Carbon-14. Carbon-12 (viết tắt là 12C) có trọng lượng nguyên tử là 12, được tạo thành từ 6 proton, 6 neutron và 6 electron — 6 electron không thêm gì vào trọng lượng nguyên tử. Carbon-13 (13C) vẫn có 6 proton và 6 electron, nhưng nó có 7 neutron. Carbon-14 (14C) có 6 proton và 8 neutron, quá nặng để giữ lấy nhau một cách ổn định và nó phát ra năng lượng để loại bỏ phần dư thừa, đó là lý do vì sao các nhà khoa học gọi nó là “phóng xạ" (radioactive).

Cả ba dạng đều phản ứng theo cùng một cách - nếu bạn kết hợp carbon với oxy, bạn luôn nhận được carbon dioxide, bất kể có bao nhiêu neutron. Các hình thức 12C và 13C là ổn định - có nghĩa là, chúng không thay đổi theo thời gian. Mặt khác, carbon-14 không ổn định mà thay vào đó phân hủy với tốc độ đã biết — vì vậy, chúng ta có thể sử dụng tỷ lệ còn lại của nó với Carbon-13 để tính toán ngày carbon phóng xạ (radiocarbon dates), nhưng đó hoàn toàn là một vấn đề khác.

Kế thừa các tỷ lệ không thay đổi

Tỷ lệ Carbon-12 trên Carbon-13 là không đổi trong bầu khí quyển của trái đất. Luôn luôn có một trăm nguyên tử 12C đến một nguyên tử 13C. Trong quá trình quang hợp, thực vật hấp thụ các nguyên tử cacbon trong khí quyển, nước và đất của trái đất và lưu trữ chúng trong tế bào của lá, quả, hạt và rễ. Tuy nhiên, tỷ lệ của các dạng cacbon bị thay đổi như một phần của quá trình quang hợp.

Trong quá trình quang hợp, thực vật thay đổi tỷ lệ hóa học 100 12C / 1 13C khác nhau ở các vùng khí hậu khác nhau. Thực vật sống ở những vùng có nhiều nắng và ít nước có số nguyên tử 12C trong tế bào tương đối ít hơn (so với 13C) so với thực vật sống trong rừng hoặc đầm lầy. Các nhà khoa học phân loại thực vật theo kiểu quang hợp chúng thực hiện hiện thành các nhóm gọi là C3, C4 và CAM.

Có phải bạn chính là những gì bạn đã ăn?  

Tỷ lệ 12C/13C được kết dính vào tế bào của thực vật, và - đây là phần tốt nhất - khi các tế bào chuyển qua chuỗi thức ăn (tức là rễ, lá và trái cây ăn bởi động vật và con người), tỷ lệ của 12C đến 13C hầu như không thay đổi vì nó lần lượt được lưu giữ trong xương, răng và tóc của động vật và con người.

Nói cách khác, nếu bạn có thể xác định tỷ lệ 12C đến 13C được lưu trữ trong xương động vật, bạn có thể tìm ra liệu thực vật chúng ăn có sử dụng các quy trình C4, C3 hoặc CAM hay không, và do đó, môi trường của thực vật giống như vậy. Nói cách khác, giả sử ở địa phương nơi bạn sống, thực vật bạn ăn sẽ được cài vào xương bởi những gì bạn ăn. Phép đo đó được thực hiện bằng phân tích khối phổ ( mass spectrometer analysis).

Carbon không phải là nguyên tố duy nhất được các nhà nghiên cứu đồng vị ổn định sử dụng. Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang xem xét việc đo tỷ lệ các đồng vị ổn định của oxy, nitơ, xtrông-ti (strontium), hydro, lưu huỳnh, chì và nhiều nguyên tố khác được tiêu hóa bởi thực vật và động vật. Nghiên cứu đó đã dẫn đến sự đa dạng đáng kinh ngạc của thông tin về chế độ ăn uống của con người và động vật.

Những nghiên cứu sớm nhất

Ứng dụng khảo cổ học đầu tiên của nghiên cứu đồng vị ổn định là vào những năm 1970 bởi nhà khảo cổ học người Nam Phi Nikolaas van der Merwe, người khai quật tại địa điểm Kgopolwe 3 thuộc thời kỳ đồ sắt châu Phi, một trong một số địa điểm ở Transvaal Lowveld của Nam Phi, được gọi là Phalaborwa.

Van de Merwe đã tìm thấy một bộ xương người nam trong một đống tro tàn trông không giống những nơi chôn cất khác trong làng. Về mặt hình thái, bộ xương khác với những cư dân khác của Phalaborwa, và anh ta đã được chôn cất theo cách hoàn toàn khác với những người dân làng điển hình. Người đàn ông trông giống như một người Khoisan[1]; và Khoisans lẽ ra không nên ở Phalaborwa, những người là tổ tiên của bộ lạc Sotho. Van der Merwe cùng các đồng nghiệp J.C. Vogel và Philip Rightmire quyết định xem xét dấu hiệu hóa học trong xương của anh ta, và kết quả ban đầu cho thấy người đàn ông này là một nông dân trồng lúa miến từ một ngôi làng Khoisan, người đã chết tại Kgopolwe 3.

Áp dụng đồng vị ổn định trong khảo cổ học

Kỹ thuật và kết quả của nghiên cứu Phalaborwa đã được thảo luận tại một hội thảo tại SUNY Binghamton, nơi van der Merwe đang giảng dạy. Vào thời điểm đó, SUNY đang điều tra các khu mộ táng Late Woodland, và thú vị là họ cùng nhau quyết định xem liệu việc bổ sung ngô (ngô Mỹ, một loài thuần hóa C4 cận nhiệt đới) vào chế độ ăn uống có được xác định ở những người trước đây chỉ ăn các loài thực vật C3 hay không: và kết quả là nó đã được xác nhận.

Nghiên cứu đó đã trở thành nghiên cứu khảo cổ học đầu tiên được công bố áp dụng phân tích đồng vị ổn định vào năm 1977. Họ so sánh tỷ lệ đồng vị cacbon ổn định (13C/12C) trong collagen của xương sườn người từ một địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn Archaic (2500-2000 TCN) và Early Woodland (400– 100 TCN) ở New York (tức là trước khi ngô xuất hiện ở vùng này) với tỷ lệ 13C/12C trong xương sườn người từ một địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn Late Woodland (khoảng 1000–1300 CN) và giai đoạn Historic Period (sau khi ngô xuất hiện) từ cùng một khu vực. Họ đã có thể chứng minh rằng các dấu hiệu hóa học trong xương sườn là dấu hiệu cho thấy ngô không có trong giai đoạn sớm (Early Woodland), nhưng đã trở thành một loại lương thực chính vào giai đoạn của Late Woodland.

Dựa trên chứng minh này và bằng chứng sẵn có về sự phân bố của các đồng vị cacbon ổn định trong tự nhiên, Vogel và van der Merwe đề xuất rằng kỹ thuật này có thể được sử dụng để phát hiện nông nghiệp trồng ngô ở Woodlands và rừng nhiệt đới của châu Mỹ; xác định tầm quan trọng của thực phẩm biển trong khẩu phần ăn của cộng đồng ven biển; ghi lại sự thay đổi của lớp phủ thực vật theo thời gian ở các thảo nguyên (savannas) dựa trên tỷ lệ chăn thả của các động vật ăn cỏ nuôi hỗn hợp; và có thể xác định nguồn gốc trong các cuộc điều tra pháp y.

Các ứng dụng mới của nghiên cứu đồng vị ổn định

Kể từ năm 1977, các ứng dụng của phân tích đồng vị ổn định đã bùng nổ về số lượng, sử dụng tỷ lệ đồng vị ổn định của các nguyên tố nhẹ hydro, carbon, nitơ, oxy và lưu huỳnh trong xương người và động vật (collagen và apatit), men răng và tóc, cũng như trong cặn gốm nung lên bề mặt hoặc thấm vào thành gốm để xác định khẩu phần ăn và nguồn nước. Tỷ lệ đồng vị bền nhẹ (thường là cacbon và nitơ) đã được sử dụng để khảo sát các thành phần chế độ ăn như sinh vật biển (ví dụ hải cẩu, cá và các loài có vỏ), các loại thực vật thuần hóa khác nhau như ngô và kê; và bò sữa (cặn sữa trong đồ gốm), và sữa mẹ (tuổi cai sữa, phát hiện ở hàng răng). Các nghiên cứu về chế độ ăn uống đã được thực hiện trên các loài vượn người ngày nay (hominins) cho đến tổ tiên cổ đại của chúng ta là Homo habilis và Australopithecines.

Nghiên cứu đồng vị khác đã tập trung vào việc xác định nguồn gốc địa lý của sự vật. Nhiều tỷ lệ đồng vị ổn định kết hợp, đôi khi bao gồm đồng vị của các nguyên tố nặng như xtrông-ti và chì, đã được sử dụng để xác định xem cư dân của các thành phố cổ đại là người nhập cư hay sinh ra tại địa phương; truy tìm nguồn gốc ngà voi, sừng tê giác bị săn trộm để phá vòng vây buôn lậu; và để xác định nguồn gốc nông nghiệp của cocaine, heroin và sợi bông được sử dụng để làm các tờ 100 đô la giả.

Một ví dụ khác về phân đoạn đồng vị có một ứng dụng hữu ích liên quan đến mưa, trong đó có các đồng vị hydro bền 1H và 2H (đơteri-deuterium) và đồng vị oxy 160 và 180. Nước bốc hơi với số lượng lớn ở xích đạo và hơi nước phân tán về phía bắc và nam. Khi H2O rơi trở lại trái đất, các đồng vị nặng sẽ thoát ra đầu tiên. Vào thời điểm tuyết rơi ở các cực, độ ẩm trong các đồng vị nặng của hydro và oxy bị cạn kiệt nghiêm trọng. Sự phân bố toàn cầu của các đồng vị này trong mưa (và trong nước máy) có thể được lập bản đồ và nguồn gốc của người tiêu dùng có thể được xác định bằng phân tích đồng vị của tóc.  

Tài liệu tham khảo và nghiên cứu gần đây

·       Grant, Jennifer. "Of Hunting and Herding: Isotopic Evidence in Wild and Domesticated Camelids from the Southern Argentine Puna (2120–420years BP)." Journal of Archaeological Science: Reports 11 (2017): 29–37. Print.

·       Iglesias, Carlos, et al. "Stable Isotope Analysis Confirms Substantial Differences between Subtropical and Temperate Shallow Lake Food Webs." Hydrobiologia 784.1 (2017): 111–23. Print.

·       Katzenberg, M. Anne, and Andrea L. Waters-Rist. "Stable Isotope Analysis: A Tool for Studying Past Diet, Demography, and Life History." Biological Anthropology of the Human Skeleton. Eds. Katzenberg, M. Anne, and Anne L. Grauer. 3rd ed. New York: John Wiley & Sons, Inc., 2019. 467–504. Print.

·       Price, T. Douglas, et al. "Isotopic Provenancing of the." Antiquity 90.352 (2016): 1022–37. Print.Salme Ship Burials in Pre-Viking Age Estonia

·       Sealy, J. C., and N. J. van der Merwe. "On "Approaches to Dietary Reconstruction in the Western Cape: Are You What You Have Eaten?"—a Reply to Parkington." Journal of Archaeological Science 19.4 (1992): 459–66. Print.

·       Somerville, Andrew D., et al. "Diet and Gender in the Tiwanaku Colonies: Stable Isotope Analysis of Human Bone Collagen and Apatite from Moquegua, Peru." American Journal of Physical Anthropology 158.3 (2015): 408–22. Print.

·       Sugiyama, Nawa, Andrew D. Somerville, and Margaret J. Schoeninger. "Stable Isotopes and Zooarchaeology at Teotihuacan, Mexico Reveal Earliest Evidence of Wild Carnivore Management in Mesoamerica." PLoS ONE 10.9 (2015): e0135635. Print.

·       Vogel, J.C., and Nikolaas J. Van der Merwe. "Isotopic Evidence for Early Maize Cultivation in New York State." American Antiquity 42.2 (1977): 238–42. Print.

 



[1] Khoisan là ngữ hệ gồm khoảng 50 ngôn ngữ miền Nam châu Phi (trong đó có các thứ tiếng Khoikhoi, San, Kwadi, và Sandawe) 

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2021

Phương pháp tiếp cận Văn hóa-Lịch sử: Tiến hóa Xã hội và Khảo cổ học

The Culture-Historical Approach: Social Evolution and Archaeology

Cập nhật ngày 18 tháng 4 năm 2019, bởi K. Kris Hirst

Nguồn: Hirst, K. Kris. "The Culture-Historical Approach: Social Evolution and Archaeology." ThoughtCo, Aug. 26, 2020, thoughtco.com/cultural-historical-method-170544. https://www.thoughtco.com/cultural-historical-method-170544

Lược dịch: NHN

Cách tiếp cận văn hóa-lịch sử là gì và tại sao nó lại là một ý tưởng tồi?

Phương pháp văn hóa - lịch sử/culture-historical method (đôi khi được gọi là cultural-historical method hoặc phương pháp tiếp cận hoặc lý thuyết văn hóa - lịch sử) là một cách tiến hành nghiên cứu nhân học và khảo cổ học phổ biến trong giới học giả phương Tây từ khoảng năm 1910 đến năm 1960. Giả thuyết cơ bản của phương pháp tiếp cận văn hóa - lịch sử trong nghiên cứu khảo cổ học hoặc nhân học là xây dựng các mốc thời gian của các sự kiện lớn và những thay đổi văn hóa trong quá khứ cho các nhóm không có tài liệu ghi chép.

Phương pháp văn hóa - lịch sử được phát triển dựa trên lý thuyết của các nhà sử học và nhân học, ở một mức độ nào đó nhằm giúp các nhà khảo cổ học tổ chức và hiểu được khối lượng lớn dữ liệu khảo cổ học đã và đang được thu thập trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bởi những người sưu tầm đồ cổ. Ngoài ra, điều đó không thay đổi, trên thực tế, với sự sẵn có của điện toán năng lượng (power computing) và các tiến bộ khoa học như hóa học cổ/archaeo-chemistry (DNA, đồng vị ổn định/stable isotopes, tàn dư thực vật/plant residues), lượng dữ liệu khảo cổ học đã tăng lên như nấm. Sự khổng lồ và phức tạp của dữ liệu khảo cổ ngày nay vẫn thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết khảo cổ học để nắm bắt được nó.

Trong số các bài viết nhằm xác định lại khảo cổ học vào những năm 1950, các nhà khảo cổ học người Mỹ Phillip Phillips và Gordon R. Willey (1953) đã cung cấp một ẩn dụ tốt để chúng ta hiểu được suy nghĩ sai lầm của khảo cổ học trong nửa đầu thế kỷ 20. Họ nói rằng các nhà khảo cổ văn hóa-lịch sử cho rằng quá khứ giống như một trò chơi ghép hình khổng lồ, rằng có một vũ trụ tồn tại từ trước nhưng chưa được biết đến có thể được nhận biết nếu bạn thu thập đủ các mảnh ghép và lắp chúng lại với nhau.

Thật không may, những thập kỷ đan xen đã cho chúng ta thấy một cách rõ ràng rằng vũ trụ khảo cổ học không hề có trật tự như vậy.

Kulturkreis và sự tiến hóa xã hội

Phương pháp tiếp cận văn hóa-lịch sử dựa trên phong trào Kulturkreis, một ý tưởng được phát triển ở Đức và Áo vào cuối những năm 1800. Kulturkreis đôi khi được đánh vần là Kulturkreise và được phiên âm là "vòng tròn văn hóa" (culture circle), nhưng trong tiếng Anh có nghĩa là một cái gì đó dọc theo hệ thống "phức hợp văn hóa" (cultural complex). Trường phái tư tưởng đó được tạo ra chủ yếu bởi các nhà sử học và dân tộc học người Đức Fritz Graebner và Bernhard Ankermann. Đặc biệt, Graebner từng là một nhà sử học thời trung cổ khi còn là một sinh viên, và là một nhà dân tộc học, ông nghĩ rằng có thể xây dựng các trình tự lịch sử giống như các trình tự lịch sử có sẵn cho các nhà nghiên cứu thời Trung cổ áp dụng cho những khu vực không có nguồn tài liệu chữ viết.

Để có thể xây dựng lịch sử văn hóa của các khu vực cho những người có ít hoặc không có ghi chép bằng văn bản, các học giả đã khai thác khái niệm về sự tiến hóa xã hội đơn tuyến (unilinear social evolution), một phần dựa trên ý tưởng của các nhà nhân loại học người Mỹ Lewis Henry Morgan và Edward Tyler, và nhà triết học xã hội người Đức Karl Marx. Ý tưởng (đã bị bóc trần từ lâu[1]) là các nền văn hóa tiến triển theo một loạt các bước ít nhiều cố định: mông muội (savagery,), dã man (barbarism) và văn minh (civilization). Nếu bạn đã nghiên cứu một cách thích hợp một khu vực cụ thể, áp dụng lý thuyết, bạn có thể theo dõi người dân của khu vực đó đã phát triển (hoặc không) như thế nào qua ba giai đoạn đó, và do đó phân loại các xã hội cổ đại và hiện đại theo vị trí của họ trong quá trình tiến đến văn minh.

Phát minh, Truyền bá, Di cư (Invention, Diffusion, Migration)

Ba quá trình chính được coi là động lực của sự tiến hóa xã hội: (1) phát minh, biến một ý tưởng mới thành sự cách tân; (2) truyền bá, quá trình truyền những phát minh đó từ văn hóa này sang văn hóa khác; và (3) di cư, sự di chuyển thực tế của người dân từ vùng này sang vùng khác. Các ý tưởng (chẳng hạn như nông nghiệp hoặc luyện kim) có thể đã được phát minh ở một khu vực rồi chuyển sang các khu vực lân cận thông qua sự truyền bá (có thể dọc theo các mạng lưới thương mại) hoặc bằng cách di cư.

Vào cuối thế kỷ 19, có một khẳng định ngông cuồng về cái mà ngày nay được coi là "siêu khuếch tán" (hyper-diffusion), rằng tất cả những ý tưởng sang tạo của thời cổ đại (nông nghiệp, luyện kim, xây dựng các công trình kiến ​​trúc vĩ đại) đã xuất hiện ở Ai Cập và lan rộng ra bên ngoài, một lý thuyết đã bị bóc trần một cách triệt để vào đầu những năm 1900. Kulturkreis chưa bao giờ lập luận rằng tất cả mọi thứ đều đến từ Ai Cập, nhưng các nhà nghiên cứu tin rằng có một số lượng hạn chế các trung tâm chịu trách nhiệm về nguồn gốc của những ý tưởng thúc đẩy tiến trình tiến hóa xã hội. Điều đó cũng đã được chứng minh là sai.

Boas và Childe

Các nhà khảo cổ học hăng hái áp dụng phương pháp tiếp cận văn hóa-lịch sử trong khảo cổ học là Franz Boas và Vere Gordon Childe. Boas lập luận rằng bạn có thể tìm hiểu văn hóa-lịch sử của một xã hội tiền chữ viết bằng cách so sánh chi tiết những thứ như các tổ hợp hiện vật (artifact assemblages), các mô hình cư trú (settlement patterns) và phong cách nghệ thuật (art styles). So sánh những điều đó sẽ cho phép các nhà khảo cổ xác định những điểm tương đồng và khác biệt và phát triển lịch sử văn hóa của các khu vực lớn và nhỏ quan tâm vào thời điểm đó.

Childe đã đưa phương pháp so sánh đến giới hạn cuối cùng của nó, mô hình hóa quá trình phát minh nông nghiệp và gia công kim loại từ Đông Á và sự lan tỏa của chúng ra khắp Cận Đông và cuối cùng là Châu Âu. Nghiên cứu bao quát đáng kinh ngạc của ông đã khiến các học giả sau này vượt ra ngoài các phương pháp tiếp cận văn hóa-lịch sử, một bước mà Childe không sống để chứng kiến.

Khảo cổ học và Chủ nghĩa dân tộc: Tại sao chúng ta lại tiến về phía trước (Archaeology and Nationalism: Why We Moved On)

Cách tiếp cận văn hóa-lịch sử đã tạo ra một khuôn khổ, một điểm khởi đầu mà các thế hệ khảo cổ học tương lai có thể xây dựng, và trong nhiều trường hợp, giải cấu trúc và tái dựng. Nhưng, cách tiếp cận văn hóa - lịch sử còn nhiều hạn chế. Giờ đây, chúng ta nhận ra rằng bất kỳ loại hình tiến hóa nào cũng không bao giờ là tuyến tính, mà là bận rộn, với nhiều bước tiến và lùi khác nhau, những thất bại và thành công là một phần của tất cả xã hội loài người. Và thẳng thắn mà nói, đỉnh cao của "nền văn minh" được các nhà nghiên cứu xác định vào cuối thế kỷ 19 là theo tiêu chuẩn ngày nay một cách mỉa mai gây sốc: nền văn minh được trải nghiệm bởi những người đàn ông da trắng, châu Âu, giàu có, có học thức. Nhưng đau đớn hơn là cách tiếp cận văn hóa - lịch sử lại trực tiếp nuôi sống chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

Bằng cách phát triển lịch sử khu vực tuyến tính, gắn họ với các nhóm dân tộc hiện đại và phân loại các nhóm trên cơ sở mức độ tiến hóa xã hội tuyến tính mà họ đã đạt được, nghiên cứu khảo cổ học đã nuôi dưỡng con thú của "chủng tộc thượng đẳng" (master race) của Hitler và biện minh cho chủ nghĩa đế quốc (imperialism) và châu Âu cưỡng bức phần còn lại của thế giới thành thuộc địa. Bất kỳ xã hội nào chưa đạt đến đỉnh cao của "văn minh" đều bị định nghĩa là mông muội hoặc man rợ, một ý tưởng ngu ngốc ngớ ngẩn. Giờ thì chúng tôi biết rồi.

Tài liệu tham khảo

·       Eiseley LC. 1940. Review of The Culture Historical Method of Ethnology, by Wilhelm Schmidt, Clyde Kluchhohn and S. A. Sieber. American Sociological Review 5(2):282-284.

·       Heine-Geldern R. 1964. One Hundred Years of Ethnological Theory in the German-Speaking Countries: Some Milestones. Current Anthropology 5(5):407-418.

·       Kohl PL. 1998. Nationalism and Archaeology: On the Constructions of Nations and the Reconstructions of the Remote past. Annual Review of Anthropology 27:223-246.

·       Michaels GH. 1996. Culture historical theory. In: Fagan BM, editor. The Oxford Companion to Archaeology. New York: Oxford University Press. p 162.

·       Phillips P, and Willey GR. 1953. Method and Theory in American Archeology: An Operational Basis for Culture-Historical Integration. American Anthropologist 55(5):615-633.

·       Trigger BG. 1984. Alternative Archaeologies: Nationalist, Colonialist, Imperialist. Man 19(3):355-370.

·       Willey GR, and Phillips P. 1955. Method and theory in American archaeology II: Historical-Developmental interpretation. American Anthropologist 57:722-819.



[1] Các nhà lý thuyết xã hội nổi tiếng theo trường phái tiến hóa luận ở thế kỷ 19 như Henry Morgan, Edward Tylor, Herbert Spencer, Jamez Frazer, Emile Durkheim, Karl Marx… đã khẳng định quan điểm rằng tất cả loài người, xã hội và thể chế đều có thể xếp vào cùng một loại thang đo, từ đơn giản đến phức tạp. Chẳng hạn như về xã hội, lý thuyết của Henry Morgan (1818–1881) khẳng định xã hội phát triển từ giai đoạn mông muội (savagery) sang dã man (babarism) đến văn minh (civilization); về tôn giáo, Edward Tylor (1832–1917) cho rằng các hình thức tôn giáo phát triển từ vật linh giáo (animism) đến đa thần giáo (polytheism) rồi đến hình thức cao nhất là nhất thần giáo (monotheism); hay trong tác phẩm nổi tiếng  Cành vàng (The Golden Bough), James Frazer (1854-1941) nói đến các giai đoạn phát triển từ ma thuật (magic) đến tôn giáo (religion) rồi đến khoa học (science); Johann Bachofen (1815 – 1887) phát triển lý thuyết của sự tiến hóa văn hóa qua sự phát triển của tổ chức hôn nhân từ tạp hôn (promiscuity) sang mẫu hệ (matriachy) rồi đến phụ hệ (patriachy).

Có thể nói, quan điểm tiến hóa luận của các nhà lý thuyết “ghế bành” (không khảo cứu thực địa) đã có ảnh hưởng trên toàn thế giới, đặc biệt ở những nơi có bàn chân đi “khai hóa văn minh” của phương Tây. Lý thuyết tiến hóa văn hóa đơn tuyến đã cung cấp một sự giải thích “hợp lý” cho tính đa dạng văn hóa ở những nơi mà người phương Tây đặt chân đến. Với việc phân loại các hình thái xã hội, tiến hóa luận giải thích rằng các xã hội không phải ngẫu nhiên mà khác nhau ở thời điểm hiện tại, mà đều đã hoặc sẽ trải qua các giai đoạn giống nhau, và trong đó, xã hội phương Tây là đỉnh cao. Thuyết tiến hóa xã hội này thậm chí đã được sử dụng để biện minh cho định kiến kỳ thị, cho sự phân biệt đối xử và cả chiến tranh.

Cùng với sự phổ biến của quan điểm tiến hóa luận, lý thuyết hiện đại hóa, cũng có gốc rễ từ những quan điểm về “tiến bộ” từ thời đại Ánh Sáng (thế kỷ 18), đã trở thành hậu thuẫn cho những tư tưởng “phát triển” theo kiểu phương Tây. Nó cũng trở thành cơ sở lý luận cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc (racism), cũng như thái độ “lấy tộc người mình là trung tâm” – chủ nghĩa vị chủng (ethnocentrism) - và dẫn đến bài xích các xã hội bị coi là thấp kém hơn mình. Việc đặt văn hóa và hệ giá trị của tộc người mình là tiêu chuẩn, từ đó kỳ thị văn hóa, hệ giá trị của nhóm khác, cũng như buộc các tộc người khác phải so sánh và tự xem là thấp kém hơn nhóm của mình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Lịch sử đã chứng kiến phong trào tử vì đạo của Cơ đốc giáo, sự tàn sát dân Do Thái của Hít-le, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Khơ-me Đỏ là tàn sát hàng triệu người, cũng vì thái độ vị chủng này.

Nguồn: http://dienngon.vn/Blog/Article/tu-nan-nhan-thanh-thu-pham-thuc-dan-van-hoa 

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2021

 Khảo cổ học Hậu quá trình - Văn hóa trong Khảo cổ học là gì?

Cập nhật ngày 05 tháng 6 năm 2019, bởi K. Kris Hirst,

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Post-Processual Archaeology - What is Culture in Archaeology Anyway?" ThoughtCo, Aug. 27, 2020, thoughtco.com/what-is-post-processual-archaeology-172230.

https://www.thoughtco.com/what-is-post-processual-archaeology-172230

Lược dịch: NHN

Khảo cổ học hậu quá trình là một phong trào khoa học trong khoa học khảo cổ học diễn ra vào những năm 1980, và rõ ràng nó là một phản ứng quan trọng đối với những hạn chế của phong trào khảo cổ học quá trình trước đó, những năm 1960.

Tóm lại, khảo cổ học quá trình (processual archaeology) đã sử dụng một cách nghiêm ngặt phương pháp khoa học để xác định các yếu tố môi trường đã ảnh hưởng đến các hành vi của con người trong quá khứ. Sau hai thập kỷ, nhiều nhà khảo cổ học đã thực hành khảo cổ học quá trình, hoặc được dạy nó trong những năm hình thành, đã nhận ra rằng khảo cổ học quá trình đã thất bại khi cố gắng giải thích sự biến đổi hành vi của con người trong quá khứ. Những người theo chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualists) bác bỏ các lập luận xác định và các phương pháp thực chứng lôgic rằng nó quá hạn chế để bao gồm nhiều loại động cơ thúc đẩy của con người.

Một phê phán triệt để (A Radical Critique)

Đặc biệt nhất, "sự phê phán triệt để" (radical critique), với tư cách là chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualism), là đặc trưng vào những năm 1980, đã bác bỏ sự tìm kiếm của những người theo chủ nghĩa thực chứng về các quy luật chung chi phối hành vi. Thay vào đó, họ gợi ý rằng các nhà khảo cổ học chú ý hơn đến các quan điểm biểu tượng, cấu trúc và chủ nghĩa Mác.

Khảo cổ học hậu quá trình biểu tượng và khảo cổ học hậu quá trình cấu trúc chủ yếu ra đời ở Anh với học giả Ian Hodder: một số học giả như Zbigniew Kobylinski và các đồng nghiệp gọi nó là "trường phái Cambridge" (Cambridge school). Trong các văn bản như Biểu tượng trong hành động (Symbols in Action), Hodder lập luận rằng từ "văn hóa" (culture) đã gần như trở nên đáng xấu hổ đối với những người theo chủ nghĩa thực chứng (positivists), những người đã bỏ qua sự thật rằng mặc dù văn hóa vật chất (material culture) có thể phản ánh sự thích nghi với môi trường, nhưng nó cũng có thể phản ánh sự biến đổi xã hội. Lăng kính thích ứng, chức năng mà các nhà thực chứng sử dụng đã che mờ họ trước những điểm trống chói lọi trong nghiên cứu của họ.  

Những người theo chủ nghĩa hậu quá trình cho biết văn hóa không thể bị thu hẹp lại thành một tập hợp các lực lượng bên ngoài như sự thay đổi môi trường, thay vào đó, văn hóa hoạt động như một phản ứng hữu cơ đa dạng đối với thực tế hàng ngày. Những thực tại đó được tạo thành từ vô số các lực lượng chính trị, kinh tế và xã hội, hoặc ít nhất dường như là cụ thể đối với một nhóm cụ thể trong một thời điểm và hoàn cảnh cụ thể, và gần như không nơi nào có thể dự đoán được như các nhà quá trình học đã giả định.

Biểu tượng và Chủ nghĩa biểu tượng (Symbols and Symbolism)

Đồng thời, phong trào theo chủ nghĩa hậu quá trình chứng kiến ​​sự nở rộ đáng kinh ngạc của những ý tưởng, một số ý tưởng trong số đó phù hợp với chủ nghĩa giải cấu trúc xã hội (social deconstruction), chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism) và phát triển từ tình trạng bất ổn dân sự ở phương Tây trong chiến tranh Việt Nam. Một số nhà khảo cổ xem hồ sơ khảo cổ như một văn bản cần được giải mã. Những người khác tập trung vào mối quan tâm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ của quyền lực và sự thống trị, không chỉ trong hồ sơ khảo cổ học mà còn ở nhà khảo cổ học. Ai có thể kể câu chuyện quá khứ?

Cơ bản của tất cả những điều đó cũng là một phong trào nhằm thách thức thẩm quyền của nhà khảo cổ học và tập trung vào việc xác định những thành kiến ​​xuất phát từ việc tạo nên giới tính hoặc dân tộc của họ. Một trong những bước phát triển có lợi của phong trào là hướng tới việc tạo ra một ngành khảo cổ học toàn diện hơn, gia tăng số lượng các nhà khảo cổ bản địa trên thế giới, cũng như phụ nữ, cộng đồng LGBT, các cộng đồng địa phương và con cháu của các cộng đồng địa phương đó. Tất cả những điều này đã mang lại sự đa dạng của những cân nhắc mới vào một ngành khoa học vốn bị thống trị bởi những người đàn ông ngoại lai phương Tây da trắng, được đặc quyền.

Phê phán lại những phê phán (Critiques of the Critique)

Tuy nhiên, sự phóng khoáng tuyệt vời của các ý tưởng đã trở thành một vấn đề. Các nhà khảo cổ học người Mỹ Timothy Earle và Robert Preucel cho rằng khảo cổ học triệt để (radical archaeology), không tập trung vào phương pháp nghiên cứu sẽ chẳng đi đến đâu. Họ kêu gọi một phương pháp khảo cổ học hành vi mới (new behavioral archaeology), một phương pháp kết hợp phương pháp tiếp cận quá trình (processual approach) cam kết giải thích sự tiến hóa văn hóa (cultural evolution), nhưng với sự tập trung đổi mới vào cá nhân.

Nhà khảo cổ học người Mỹ Alison Wylie nói rằng khảo cổ học hậu quá trình phải học cách kết hợp sự xuất sắc về phương pháp luận của các nhà khảo cổ học quá trình với tham vọng khám phá cách con người trong quá khứ gắn bó với văn hóa vật chất của họ. Và Randall McGuire người Mỹ đã cảnh báo lại rằng các nhà khảo cổ học hậu quá trình chọn các đoạn trích từ một loạt các lý thuyết xã hội mà không phát triển một lý thuyết chặt chẽ, nhất quán về mặt logic.

Chi phí và lợi ích (The Costs and Benefits)

Các vấn đề được bới ra trong thời kỳ đỉnh cao của phong trào hậu quá trình vẫn chưa được giải quyết, và ngày nay rất ít nhà khảo cổ tự coi mình là những người theo chủ nghĩa hậu quá trình. Tuy nhiên, một điểm phát triển vượt bậc là sự thừa nhận rằng khảo cổ học là một ngành học có thể sử dụng cách tiếp cận theo ngữ cảnh (contextual approach) dựa trên các nghiên cứu dân tộc học để phân tích các bộ hiện vật hoặc biểu tượng và tìm kiếm bằng chứng về các hệ thống tín ngưỡng. Các đối tượng có thể không chỉ đơn giản là tàn tích của hành vi, mà thay vào đó, chúng có thể có một biểu tượng quan trọng mà học ít nhất khảo cổ có thể phát huy tác dụng.

Và thứ hai, sự nhấn mạnh vào tính khách quan, hay đúng hơn là sự thừa nhận tính chủ quan, vẫn chưa lắng xuống. Ngày nay các nhà khảo cổ vẫn suy nghĩ và giải thích tại sao họ lại chọn một phương pháp cụ thể; tạo ra nhiều bộ giả thuyết để đảm bảo rằng chúng không bị đánh lừa bởi một khuôn mẫu; và nếu có thể, hãy cố gắng tìm kiếm sự liên quan đến xã hội. Rốt cuộc, khoa học là gì nếu nó không áp dụng cho thế giới thực?

Tài liệu tham khảo chọn lọc

·       Earle, Timothy K., et al. "Processual Archaeology and the Radical Critique [and Comments and Reply]." Current Anthropology 28.4 (1987): 501–38. Print.

·       Engelstad, Ericka. "Images of Power and Contradiction: Feminist Theory and Post-Processual Archaeology." Antiquity 65.248 (1991): 502-14. Print.

·       Fewster, Kathryn J. "The Potential of Analogy in Post-Processual Archaeologies: A Case Study from Basimane Ward, Serowe, Botswana." The Journal of the Royal Anthropological Institute 12.1 (2006): 61–87. Print.

·       Fleming, Andrew. "Post-Processual Landscape Archaeology: A Critique." Cambridge Archaeological Journal 16.3 (2006): 267-80. Print.

·       Kobylinski, Zbigniew, Jose Luis Lanata, and Hugo Daniel Yacobaccio. "On Processual Archaeology and the Radical Critique." Current Anthropology 28.5 (1987): 680–82. Print.

·       Mizoguchi, Koji. "A Future of Archaeology." Antiquity 89.343 (2015): 12-22. Print.

·       Patterson, Thomas C. "History and the Post-Processual Archaeologies." Man 24.4 (1989): 555–66. Print.

·       Wylie, Alison. "The Reaction against Analogy." Advances in Archaeological Method and Theory 8 (1985): 63–111. Print.

·       Yoffee, Norman and Andrew Sherratt. "Archaeological Theory: Who Sets the Agenda?" Cambridge: Cambridge University Press, 1993.

·       Yu, Pei-Lin, Matthew Schmader, and James G. Enloe. "'I’m the Oldest New Archaeologist in Town': The Intellectual Evolution of Lewis R. Binford." Journal of Anthropological Archaeology 38 (2015): 2–7. Print.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

Khảo cổ học Quá trình (Processual Archaeology)

Ứng dụng Phương pháp Khoa học của Khảo cổ học Mới

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Processual Archaeology." ThoughtCo, Aug. 26, 2020, thoughtco.com/what-is-processual-archaeology-172242. https://www.thoughtco.com/what-is-processual-archaeology-172242

Lược dịch: NHN

Khảo cổ học quá trình là một phong trào giới trí thức những năm 1960, được gọi là "khảo cổ học mới" (new archaeology), ủng hộ chủ nghĩa thực chứng lôgic như một triết lý nghiên cứu hướng dẫn, được mô phỏng theo phương pháp khoa học - một thứ chưa từng được áp dụng cho khảo cổ học trước đây.

Những người theo chủ nghĩa quá trình bác bỏ quan điểm văn hóa-lịch sử vốn cho rằng văn hóa là một tập hợp các chuẩn mực do một nhóm nắm giữ và truyền đạt cho các nhóm khác bằng cách truyền bá và thay vào đó lập luận rằng các dấu tích khảo cổ của một nền văn hóa là kết quả ứng xử của sự thích nghi của một quần thể với các điều kiện môi trường cụ thể. Đã đến lúc Khảo cổ học Mới sẽ tận dụng phương pháp khoa học để tìm ra và làm rõ các quy luật chung (lý thuyết) của sự phát triển văn hóa theo cách mà các xã hội phản ứng với môi trường của họ.

Khảo cổ học mới

Khảo cổ học Mới nhấn mạnh việc hình thành lý thuyết, xây dựng mô hình và kiểm tra giả thuyết trong nghiên cứu nhằm tìm kiếm các quy luật chung về hành vi của con người. Những người theo chủ nghĩa quá trình học lập luận rằng lịch sử văn hóa là không thể lặp lại: việc kể một câu chuyện về sự thay đổi của một nền văn hóa là vô ích trừ khi bạn kiểm tra các suy luận của nó. Làm thế nào để bạn biết một sự kiện lịch sử văn hóa mà bạn đã phục dựng là chính xác? Trên thực tế, bạn có thể nhầm lẫn nghiêm trọng nhưng không có cơ sở khoa học nào để bác bỏ điều đó. Những người theo chủ nghĩa quá trình rõ ràng muốn vượt ra khỏi các phương pháp lịch sử - văn hóa của quá khứ (chỉ đơn giản là xây dựng hồ sơ về những thay đổi) để tập trung vào các quá trình của văn hóa (điều gì đã xảy ra để tạo nên nền văn hóa đó).

Ngoài ra còn có một cách định nghĩa lại ngụ ý văn hóa là gì. Văn hóa trong khảo cổ học quá trình được quan niệm chủ yếu là cơ chế thích ứng cho phép con người đối phó với môi trường của họ. Văn hóa theo quan niệm của khảo cổ học quá trình được xem như một hệ thống bao gồm các hệ thống con, và khung giải thích của tất cả các hệ thống đó là hệ sinh thái văn hóa (cultural ecology), do đó cung cấp cơ sở cho các mô hình giả thuyết suy luận mà những người theo chủ nghĩa quá trình có thể kiểm tra.

Những công cụ mới

Để thành công trong ngành khảo cổ học mới này, các nhà quá trình học đã có hai công cụ: khảo cổ học dân tộc họccác loại kỹ thuật thống kê đang phát triển nhanh chóng, một phần của "cuộc cách mạng định lượng" mà tất cả các ngành khoa học ngày nay đã trải qua và một động lực của "big data" ngày nay. Cả hai công cụ này vẫn hoạt động trong ngành khảo cổ học: cả hai đều được sử dụng đầu tiên trong những năm 1960.

Khảo cổ học dân tộc học là việc sử dụng các kỹ thuật khảo cổ học ở các ngôi làng bị bỏ hoang, các khu định cư và các địa điểm có người sinh sống. Nghiên cứu khảo cổ dân tộc học quá trình cổ điển là cuộc kiểm tra của Lewis Binford đối với các di tích khảo cổ do những người săn bắn và hái lượm di động của người Inuit để lại (1980). Binford rõ ràng đang tìm kiếm bằng chứng về các quá trình lặp lại theo khuôn mẫu, một "biến thể thường xuyên" (regular variability) có thể được tìm kiếm và tìm thấy trên các địa điểm khảo cổ do những người săn bắn hái lượm thuộc thời hậu kỳ đồ đá cũ để lại.

Với phương pháp tiếp cận khoa học mà các nhà quá trình học mong muốn, họ cần rất nhiều dữ liệu để kiểm tra. Khảo cổ học quá trình ra đời trong cuộc cách mạng định lượng, bao gồm sự bùng nổ của các kỹ thuật thống kê tinh vi được thúc đẩy bởi sức mạnh tính toán ngày càng tăng và khả năng tiếp cận chúng ngày càng tăng. Dữ liệu được thu thập bởi các nhà quá trình học (và vẫn tiếp tục thực hiện cho đến ngày nay) bao gồm cả các đặc điểm văn hóa vật chất (như kích thước, hình dạng và vị trí hiện vật) và dữ liệu từ các nghiên cứu dân tộc học về quá trình hình thành và di chuyển dân số đã biết trong lịch sử. Những dữ liệu đó được sử dụng để xây dựng và cuối cùng kiểm tra khả năng thích nghi của một nhóm sống trong các điều kiện môi trường cụ thể và qua đó để giải thích các hệ thống văn hóa thời tiền sử.

Chuyên ngành phụ

Những người theo chủ nghĩa quá trình quan tâm đến các mối quan hệ động-dynamic relationships (nguyên nhân và tác động) hoạt động giữa các thành phần của một hệ thống hoặc giữa các thành phần của hệ thống và môi trường. Quá trình theo định nghĩa là sự lặp đi lặp lại: đầu tiên, nhà khảo cổ học quan sát các hiện tượng trong ghi chép khảo cổ học hoặc dân tộc học, sau đó họ sử dụng những quan sát đó để hình thành giả thuyết rõ ràng về mối liên hệ của dữ liệu đó với các sự kiện hoặc điều kiện trong quá khứ có thể gây ra những hiện tượng đã quan sát. Tiếp theo, nhà khảo cổ học sẽ tìm ra loại dữ liệu nào có thể hỗ trợ hoặc bác bỏ giả thuyết đó, và cuối cùng, nhà khảo cổ học sẽ thu thập thêm dữ liệu và tìm hiểu xem giả thuyết có hợp lệ hay không. Nếu nó hợp lệ cho một địa điểm hoặc hoàn cảnh, giả thuyết đó có thể được kiểm tra ở một địa điểm hoặc hoàn cảnh khác.

Việc tìm kiếm các quy luật chung nhanh chóng trở nên phức tạp, bởi vì có quá nhiều dữ liệu và quá nhiều biến tùy thuộc vào những gì nhà khảo cổ học đã nghiên cứu. Một cách nhanh chóng, các nhà khảo cổ học tìm thấy mình trong các chuyên ngành phụ có khả năng ứng phó: khảo cổ học không gian (spatial archaeology) xử lý các mối quan hệ không gian ở mọi cấp độ từ hiện vật đến các mô hình cư trú; khảo cổ học khu vực (regional archaeology) tìm hiểu thương mại và trao đổi trong một khu vực; khảo cổ học xen kẽ (intersite archaeology) tìm cách xác định và báo cáo về tổ chức chính trị xã hội và sự tồn tại; và khảo cổ học tại chỗ (intrasite archaeology) nhằm tìm hiểu mô hình hoạt động của con người.

Lợi ích và Chi phí của Khảo cổ học Quá trình

Trước khảo cổ học quá trình, khảo cổ học thường không được coi là một khoa học, bởi vì các điều kiện trên một địa điểm hoặc đặc điểm (feature) không bao giờ giống nhau và do đó theo định nghĩa là không thể lặp lại. Những gì các nhà Khảo cổ học Mới (New Archaeologists) đã làm là biến phương pháp khoa học trở nên thực tế trong những hạn chế của nó.

Tuy nhiên, những gì mà các nhà khảo cổ học quá trình phát hiện ra là các địa điểm, nền văn hóa và hoàn cảnh khác nhau quá nhiều trong khi chúng chỉ được giải thích đơn giản là một phản ứng với các điều kiện môi trường. Đó là một nguyên tắc chính thức, nhất thể mà nhà khảo cổ học Alison Wylie gọi là "làm tê liệt đòi hỏi về sự chắc chắn". Phải có những thứ khác đang diễn ra, bao gồm cả những hành vi xã hội của con người không liên quan gì đến việc thích nghi với môi trường.

Những phê phán đối với chủ nghĩa quá trình ra đời từ những năm 1980 được gọi là chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualism), đây là một câu chuyện khác nhưng không kém phần ảnh hưởng đến khoa học khảo cổ học ngày nay.

Nguồn tham khảo

·       Binford LR. 1968. Some Comments on Historical versus Processual Archaeology. Southwestern Journal of Anthropology 24(3):267-275.

·       Binford LR. 1980. Willow smoke and dog's tails: Hunter-gatherer settlement systems and archaeological site formation. American Antiquity 45(1):4-20.

·       Earle TK, Preucel RW, Brumfiel EM, Carr C, Limp WF, Chippindale C, Gilman A, Hodder I, Johnson GA, Keegan WF et al. 1987. Processual Archaeology and the Radical Critique [and Comments and Reply]. Current Anthropology 28(4):501-538.

·       Fewster KJ. 2006. The Potential of Analogy in Post-Processual Archaeologies: A Case Study from Basimane Ward, Serowe, Botswana. The Journal of the Royal Anthropological Institute 12(1):61-87.

·       Kobylinski Z, Lanata JL, and Yacobaccio HD. 1987. On Processual Archaeology and the Radical Critique. Current Anthropology 28(5):680-682.

·       Kushner G. 1970. A Consideration of Some Processual Designs for Archaeology as Anthropology. American Antiquity 35(2):125-132.

·       Patterson TC. 1989. History and the Post-Processual Archaeologies. Man 24(4):555-566.

·       Wylie A. 1985. The Reaction against Analogy. Advances in Archaeological Method and Theory 8:63-111.

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2021

Khảo cổ học dân tộc học: Sự kết hợp giữa Nhân học văn hóa và Khảo cổ học

Ethnoarchaeology: Blending Cultural Anthropology and Archaeology

Cập nhật ngày 30 tháng 1 năm 2019, bởi K. Kris Hirst,

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Ethnoarchaeology: Blending Cultural Anthropology and Archaeology." ThoughtCo, Aug. 25, 2020, thoughtco.com/ethnoarchaeology-cultural-anthropology-archaeology-170805. https://www.thoughtco.com/ethnoarchaeology-cultural-anthropology-archaeology-170805

Lược dịch: NHN

Nhà khảo cổ học đang làm gì trong lĩnh vực nhân học?

Khảo cổ dân tộc học là một kỹ thuật nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng thông tin từ các nền văn hóa sống (living cultures) — dưới dạng dân tộc học (ethnology/ethnography), lích sử dân tộc học (ethnohistory) và khảo cổ học thực nghiệm (experimental archaeology) — để hiểu các mẫu hoa văn được tìm thấy tại một địa điểm khảo cổ. Một nhà Khảo cổ dân tộc học thu thập bằng chứng về các hoạt động đang diễn ra trong bất kỳ xã hội nào và sử dụng các nghiên cứu đó để mô tả sự tương đồng của những hành vi thời hiện đại nhằm giải thích và hiểu rõ hơn về các mẫu hoa văn được thấy trong các địa điểm khảo cổ.

Nhà khảo cổ học người Mỹ Susan Kent đã định nghĩa mục đích của khảo cổ dân tộc học là "xây dựng và kiểm tra các phương pháp, giả thuyết, mô hình và lý thuyết có định hướng và / hoặc có nguồn gốc khảo cổ học với dữ liệu dân tộc học." Nhưng chính nhà khảo cổ học Lewis Binford đã viết rõ ràng nhất: Khảo cổ dân tộc học là một "viên đá Rosetta: một cách phiên dịch các vật chất tĩnh được tìm thấy trên một địa điểm khảo cổ thành cuộc sống sôi động của một nhóm người trên thực tế đã bỏ lại chúng ở đó."

Khảo cổ dân tộc học Thực hành

Khảo cổ dân tộc học thường được tiến hành bằng cách sử dụng các phương pháp nhân học văn hóa như “quan sát tham gia” (participant observation), nhưng nó cũng tìm thấy dữ liệu hành vi trong các báo cáo dân tộc học và lịch sử dân tộc học cũng như lịch sử truyền miệng. Yêu cầu cơ bản là dựa trên bất kỳ bằng chứng chắc chắn nào để mô tả các hiện vật và tương tác của chúng với con người trong các hoạt động.

Dữ liệu dân tộc học có thể được tìm thấy trong các mô tả bằng văn bản đã hoặc chưa được xuất bản (tài liệu lưu trữ, ghi chép thực địa, v.v.); ảnh chụp; lịch sử truyền miệng; bộ sưu tập hiện vật công hoặc tư nhân; và tất nhiên, từ những quan sát có chủ ý thực hiện cho mục đích khảo cổ học về một xã hội sống. Nhà khảo cổ học người Mỹ Patty Jo Watson cho rằng khảo cổ dân tộc học cũng nên bao gồm khảo cổ thực nghiệm (experimental archaeology). Trong khảo cổ học thực nghiệm, nhà khảo cổ tạo ra tình huống để được quan sát thay vì đưa nó đến nơi mà họ tìm thấy: các quan sát vẫn được thực hiện từ các biến số liên quan đến khảo cổ học trong một bối cảnh sống cụ thể.

Hướng tới một khảo cổ học phong phú hơn

Khả năng Khảo cổ dân tộc học mang lại vô số ý tưởng về những gì các nhà khảo cổ có thể nói về các hành vi được thể hiện trong hồ sơ khảo cổ: và một thực tế tương ứng về khả năng của các nhà khảo cổ học để nhận ra tất cả hoặc thậm chí bất kỳ hành vi xã hội nào diễn ra trong một nền văn hoá cổ đại. Những hành vi đó phải được phản ánh trong văn hóa vật chất (Tôi làm ra cái nồi bằng cách này bởi vì mẹ của tôi tạo ra nó bằng cách này; Tôi đã đi 50 dặm để lấy loại cỏ này vì đó là nơi chúng tôi vẫn luôn đi). Nhưng sự thực cơ bản đó chỉ có thể được xác định từ phấn hoa và các mảng gốm vỡ nếu các kỹ thuật cho phép nắm bắt và diễn giải cẩn thận phù hợp với hoàn cảnh.

Nhà khảo cổ học Nicholas David đã mô tả vấn đề khá rõ ràng: khảo cổ dân tộc học là một nỗ lực nhằm vượt qua ranh giới giữa trật tự lý tưởng (những ý tưởng khó quan sát, giá trị, chuẩn mực không thể quan sát được và sự thể hiện của trí tuệ con người) và thứ tự hiện tượng (các hiện vật, những thứ bị ảnh hưởng bởi hành động của con người và phân biệt bởi vật chất, hình thức và ngữ cảnh).

Các cuộc tranh luận về quá trình và hậu quá trình

Nghiên cứu Khảo cổ dân tộc học đã làm mới nghiên cứu khảo cổ học khi khoa học bước vào thời đại khoa học sau Thế chiến thứ hai. Thay vì chỉ đơn giản là tìm ra những cách tốt hơn để đo đạc, tìm kiếm nguồn và kiểm tra các hiện vật (hay còn gọi là khảo cổ quá trình/ processual archaeology), các nhà khảo cổ học cảm thấy giờ đây họ có thể đưa ra giả thuyết về các loại hành vi mà các hiện vật đó biểu hiện (hay còn gọi là khảo cổ học sau quá trình/post-processual archaeology). Cuộc tranh luận đó đã phân cực giới chuyên môn trong phần lớn những năm 1970 và 1980: và rõ ràng là trận đấu không đầy đủ khi các cuộc tranh luận kết thúc.

Có một điều, khảo cổ học với tư cách là một nghiên cứu lịch đại (diachronic) — một địa điểm khảo cổ đơn lẻ luôn bao gồm bằng chứng về tất cả các sự kiện và hành vi văn hóa có thể đã diễn ra tại địa điểm đó trong hàng trăm hoặc hàng nghìn năm, chưa kể đến những điều tự nhiên đã xảy ra với nó trong thời gian đó. Ngược lại, dân tộc học có tính đồng đại (synchronic)- những gì đang được nghiên cứu là những gì xảy ra trong quá trình nghiên cứu. Và luôn có sự không chắc chắn tiềm ẩn này: liệu các kiểu hành vi được thấy trong các nền văn hóa hiện đại (hoặc lịch sử) có thực sự được khái quát hóa cho các nền văn hóa khảo cổ cổ đại hay không, và bao nhiêu?

Lịch sử của ngành Dân tộc học

Dữ liệu dân tộc học đã được một số nhà khảo cổ học cuối thế kỷ 19/đầu thế kỷ 20 sử dụng để tìm hiểu các địa điểm khảo cổ (Edgar Lee Hewett ghi nhớ), nhưng nghiên cứu hiện đại bắt nguồn từ sự bùng nổ sau chiến tranh, những năm 1950 và 60. Bắt đầu từ những năm 1970, các tài liệu nghiên cứu phát triển mạnh mẽ khám phá những tiềm năng của phương pháp này (cuộc tranh luận về Quá trình/Hậu quá trình thúc đẩy phần lớn điều đó). Có một số bằng chứng, dựa trên sự giảm số lượng các lớp học và chương trình đại học, rằng khảo cổ dân tộc học, mặc dù là một phương pháp thực hành được chấp nhận và có lẽ là tiêu chuẩn cho hầu hết các nghiên cứu khảo cổ học vào cuối thế kỷ 20, nhưng tầm quan trọng trong của nó đang mờ nhạt trong thế kỷ 21.

Phê bình hiện đại

Kể từ những hoạt động đầu tiên của nó, khảo cổ dân tộc học thường bị chỉ trích vì một số vấn đề, chủ yếu là vì những giả định cơ bản về mức độ các hoạt động của một xã hội sống có thể phản ánh về một quá khứ xa xưa. Gần đây, các học giả như nhà khảo cổ Olivier Gosselain và Jerimy Cunningham đã lập luận rằng các học giả phương Tây bị che mờ bởi những giả định về các nền văn hóa sống. Đặc biệt, Gosselain lập luận rằng khảo cổ dân tộc học không áp dụng cho thời tiền sử vì nó không được thực hành như dân tộc học - nói cách khác, bạn không thể đơn giản thu thập dữ liệu kỹ thuật để áp dụng đúng các khuôn mẫu văn hóa có nguồn gốc từ những người vẫn còn sống.

Nhưng Gosselain cũng lập luận rằng việc thực hiện một nghiên cứu dân tộc học đầy đủ sẽ không phải là việc sử dụng thời gian hữu ích, vì đánh đồng các xã hội ngày nay sẽ không bao giờ đủ áp dụng cho quá khứ. Ông cũng nói thêm rằng mặc dù Khảo cổ dân tộc học có thể không còn là một cách hợp lý để tiến hành nghiên cứu, nhưng lợi ích chính của nghiên cứu là thu thập được một lượng lớn dữ liệu về kỹ thuật sản xuất và phương pháp luận, có thể được sử dụng như một bộ sưu tập tham khảo cho học thuật.

Nguồn tham khảo lựa chọn

·       Cunningham, Jerimy J., and Kevin M. McGeough. "The Perils of Ethnographic Analogy. Parallel Logics in Ethnoarchaeology and Victorian Bible Customs Books." Archaeological Dialogues 25.2 (2018): 161–89. Print.

·       González-Urquijo, J., S. Beyries, and J. J. Ibáñez. "Ethnoarchaeology and Functional Analysis." Use-Wear and Residue Analysis in Archaeology. Eds. Marreiros, João Manuel, Juan F. Gibaja Bao and Nuno Ferreira Bicho. Manuals in Archaeological Method, Theory and Technique: Springer International Publishing, 2015. 27–40. Print.

·       Gosselain, Olivier P. "To Hell with Ethnoarchaeology!" Archaeological Dialogues 23.2 (2016): 215–28. Print.

·       Kamp, Kathryn, and John Whittaker. "Editorial Reflections: Teaching Science with Ethnoarchaeology and Experimental Archaeology." Ethnoarchaeology 6.2 (2014): 79–80. Print.

·       Parker, Bradley J. "Bread Ovens, Social Networks and Gendered Space: An Ethnoarchaeological Study of Tandir Ovens in Southeastern Anatolia." American Antiquity 76.4 (2011): 603–27. Print.

·       Politis, Gustavo. "Reflections on Contemporary Ethnoarchaeology." Pyrenae 46 (2015). Print.

·       Schiffer, Michael Brian. "Contributions of Ethnoarchaeology." The Archaeology of Science. Vol. 9. Manuals in Archaeological Method, Theory and Technique: Springer International Publishing, 2013. 53–63. Print.

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Artifacts, Ecofacts, Features, and Sites: A Lesson in Archaeological Jargon

Going through a museum, it is easy for me to get lost in excitement and wonder over the amazing archaeological displays. Every time I visit an exhibit, I find myself glimpsing into the worlds of the Inca, the Olmec, or the ancient Hindus in Southeast Asia by standing face to face with items that outdate me by thousands of years. Likewise, when I visit an archaeological site, like the Pecos ruins in New Mexico, I am in awe of the history, the creativity, and the cultural significance that surrounds me.
Surely, I am not alone in this feeling of wonderment. It is human nature to be curious about humankind’s past, have an interest in exploring cultures different from our own, and see what previous generations were like and what they left behind.
But what are we looking at when we see these archaeological displays of grandeur either within the halls of museums or out in the natural world? To my surprise, when I first began to study the field of archaeology, I learned that there are classifications for findings. These classifications – artifacts, ecofacts, features, and sites – can help us understand what we are looking at and apply context that enriches the experience of observing archaeological findings. Through this blog, OKPAN offers a break down and explanation for these terms so that the next time you are marveling at an archaeological find, you will be able to classify what you are observing!
Artifacts
“Artifacts” is the archaeological term most recognized by the general public. The word is freely tossed around in pop-culture references and conversation. But what qualifies an object as an artifact? An artifact is any portable object that was made or modified by humans and is at least 50 years old. Examples of artifacts would include stone projectile points, pottery, carvings, bone, and much more! Equally important as classifying an artifact is asking the right questions about it. According to the Smithsonian Institute, there are five suggested ways to think about an artifact:
Artifacts tell their own stories.
Artifacts connect people.
Artifacts mean many things.
Artifacts capture moments.
Artifacts reflect changes.
The next time you find yourself looking at artifacts in a museum or in the field, keep these points in mind and think about artifacts in a new way!
 Ecofacts
Ecofacts, like artifacts, are portable findings. However, an ecofact is defined as a natural object, like bone and plant remains, that assist archaeologists in grasping a deeper context for the environment and habits of the people who lived there. To distinguish an ecofact from an artifact, ask yourself if the object was modified by humans, or if it is in a natural state. For example, consider bison bone. If a bison bone  found in an archaeological context is unmodified, it is an ecofact. However, if the bone, such as a shoulder blade, was modified by humans for use as a gardening hoe, then the bone is instead an artifact!
 Features
Features are different from artifacts, because unlike items such as spear points or potsherds, features cannot be transported or moved. Some examples of features would be Puebloan kivas, hearths, or post molds – places where house posts once stood. Features are still clearly modified by humans, but their ability to be transported for analysis is the key difference. Features often contain artifacts, ranging from ceremonial objects, spear points, ancient household objects, and many more!
Sites
 Finally, there are archaeological sites. Unlike artifacts, ecofacts, and features, sites are not individual items. Sites are an archaeological conglomeration of artifacts, ecofacts, and features. A site is the location of archaeological findings, and examples include cemeteries, villages, cliff dwellings, and much more! Some North American sites like Cahokia or Chichen Itza are easily visible today, but most are buried deep within the ground. Archaeologists diligently survey the land to locate these buried sites, and when one is found, it’s time for the fun part – excavation!


Understanding the key classifications amongst archaeological findings is an important tool in analysis. In Oklahoma, examples of artifacts and ecofacts can be found at the Sam Noble Museum of Natural History, in Norman, the Museum of the Great Planes in Lawton, and many other institutions. If features and sites are of interest to you, plan a visit to the Spiro Mound site, which is the only prehistoric site in Oklahoma open to the public.

Source: https://okpublicarchaeology.wordpress.com/2017/08/23/artifacts-ecofacts-features-and-sites-a-lesson-in-archaeological-jargon/ 



Ký hiệu AD, BC, CE và BCE, BP nghĩa là gì khi đi kèm năm thời gian
AD and BC
You sometimes see years written with AD or BC, like this:
2000 AD
450 BC
What does it mean?
AD is AFTER Jesus Christ was born.
BC is BEFORE Jesus Christ was born.
AD stands for the Latin Anno Domini meaning “In the year of Our Lord”.
BC stands for Before Christ.
BC is always written after the year. AD may be written before the year or (modern style) after the year. If a year is shown without AD or BC, it is usually AD.
This practice was first suggested in the sixth century A.D., and was adopted by the pope of that time. It took quite a while for it to become a worldwide standard, however. Russia and Turkey, for example, did not convert to the modern calendar and year scheme until the 20th century.
AD and BC
Here are some examples going back in time:
The Second World War ended in 1945.
The Gregorian calendar was introduced in 1582 AD.
Vesuvius erupted in AD 79 and Pompeii was buried under ash.
Jesus Christ was thought to have been born in AD 1.
But he was probably born a few years earlier, around 5 BC.
Julius Caesar was assassinated in 44 BC.
In 71 BC Spartacus was defeated by the Romans.
Rome was founded in 753 BC.
The Great Pyramid was completed in Egypt more than 4,500 years ago, around 2566 BC.
Evidence of the creation and use of pottery earlier than 17,000 BC has been found in China.
CE and BCE
You sometimes see CE and BCE instead of AD and BC. They are relatively new terms that mean the same as AD and BC.
CE stands for “Common Era” and is the same as AD.
BCE stands for “Before Common Era” and is the same as BC.
Look at these examples:
Genghis Khan died in 1227 CE. [same as 1227 AD]
Rome was founded in 753 BCE. [same as 753 BC]
Lưu ý:
Việc đưa ra ý tưởng dùng CE và BCE thay thế cho AD và BC là xuất phát từ những người không theo Cơ đốc giáo (non-Christians). Đây là chủ để được tranh cãi rất gay gắt giữa các nhóm tôn giáo với nhau và cả với nhóm phi tôn giáo.  Cũng không có gì là lạ. Các vấn đề liên quan tới tôn giáo (và đi kèm theo đó là ảnh hưởng của nó trên toàn cầu) luôn diễn ra rất “khốc liệt”, không chỉ trước đây mà ngay bây giờ cũng vẫn thế, không khá hơn tý nào. Xem thêm ở đây.
Vì vậy, tốt nhất là cứ giả vờ không biết mà dùng AD và BC cho lành.
BP
“BP – Before Present” means before 1950. The most commonly used convention in radiocarbon dating. “Present” referring to the year 1950 AD. 1950 is the date that the calibration curves were established. It also predates atmospheric testing of the atom bomb, which significantly upset C12/C14 ratios in the following years.
Example: If a radiocarbon lab reports an age of 13000 years BP, they are implying that the fossil would have died 13000 years before 1950 AD.

Viết và biên tập một bài báo khoa học Hiện nay, nghiên cứu khoa học là sự đòi hỏi cấp thiết của đời sống, là yêu cầu của tất cả các ngành và...