Thứ Năm, 5 tháng 8, 2021

 Khảo cổ học Hậu quá trình - Văn hóa trong Khảo cổ học là gì?

Cập nhật ngày 05 tháng 6 năm 2019, bởi K. Kris Hirst,

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Post-Processual Archaeology - What is Culture in Archaeology Anyway?" ThoughtCo, Aug. 27, 2020, thoughtco.com/what-is-post-processual-archaeology-172230.

https://www.thoughtco.com/what-is-post-processual-archaeology-172230

Lược dịch: NHN

Khảo cổ học hậu quá trình là một phong trào khoa học trong khoa học khảo cổ học diễn ra vào những năm 1980, và rõ ràng nó là một phản ứng quan trọng đối với những hạn chế của phong trào khảo cổ học quá trình trước đó, những năm 1960.

Tóm lại, khảo cổ học quá trình (processual archaeology) đã sử dụng một cách nghiêm ngặt phương pháp khoa học để xác định các yếu tố môi trường đã ảnh hưởng đến các hành vi của con người trong quá khứ. Sau hai thập kỷ, nhiều nhà khảo cổ học đã thực hành khảo cổ học quá trình, hoặc được dạy nó trong những năm hình thành, đã nhận ra rằng khảo cổ học quá trình đã thất bại khi cố gắng giải thích sự biến đổi hành vi của con người trong quá khứ. Những người theo chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualists) bác bỏ các lập luận xác định và các phương pháp thực chứng lôgic rằng nó quá hạn chế để bao gồm nhiều loại động cơ thúc đẩy của con người.

Một phê phán triệt để (A Radical Critique)

Đặc biệt nhất, "sự phê phán triệt để" (radical critique), với tư cách là chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualism), là đặc trưng vào những năm 1980, đã bác bỏ sự tìm kiếm của những người theo chủ nghĩa thực chứng về các quy luật chung chi phối hành vi. Thay vào đó, họ gợi ý rằng các nhà khảo cổ học chú ý hơn đến các quan điểm biểu tượng, cấu trúc và chủ nghĩa Mác.

Khảo cổ học hậu quá trình biểu tượng và khảo cổ học hậu quá trình cấu trúc chủ yếu ra đời ở Anh với học giả Ian Hodder: một số học giả như Zbigniew Kobylinski và các đồng nghiệp gọi nó là "trường phái Cambridge" (Cambridge school). Trong các văn bản như Biểu tượng trong hành động (Symbols in Action), Hodder lập luận rằng từ "văn hóa" (culture) đã gần như trở nên đáng xấu hổ đối với những người theo chủ nghĩa thực chứng (positivists), những người đã bỏ qua sự thật rằng mặc dù văn hóa vật chất (material culture) có thể phản ánh sự thích nghi với môi trường, nhưng nó cũng có thể phản ánh sự biến đổi xã hội. Lăng kính thích ứng, chức năng mà các nhà thực chứng sử dụng đã che mờ họ trước những điểm trống chói lọi trong nghiên cứu của họ.  

Những người theo chủ nghĩa hậu quá trình cho biết văn hóa không thể bị thu hẹp lại thành một tập hợp các lực lượng bên ngoài như sự thay đổi môi trường, thay vào đó, văn hóa hoạt động như một phản ứng hữu cơ đa dạng đối với thực tế hàng ngày. Những thực tại đó được tạo thành từ vô số các lực lượng chính trị, kinh tế và xã hội, hoặc ít nhất dường như là cụ thể đối với một nhóm cụ thể trong một thời điểm và hoàn cảnh cụ thể, và gần như không nơi nào có thể dự đoán được như các nhà quá trình học đã giả định.

Biểu tượng và Chủ nghĩa biểu tượng (Symbols and Symbolism)

Đồng thời, phong trào theo chủ nghĩa hậu quá trình chứng kiến ​​sự nở rộ đáng kinh ngạc của những ý tưởng, một số ý tưởng trong số đó phù hợp với chủ nghĩa giải cấu trúc xã hội (social deconstruction), chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism) và phát triển từ tình trạng bất ổn dân sự ở phương Tây trong chiến tranh Việt Nam. Một số nhà khảo cổ xem hồ sơ khảo cổ như một văn bản cần được giải mã. Những người khác tập trung vào mối quan tâm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ của quyền lực và sự thống trị, không chỉ trong hồ sơ khảo cổ học mà còn ở nhà khảo cổ học. Ai có thể kể câu chuyện quá khứ?

Cơ bản của tất cả những điều đó cũng là một phong trào nhằm thách thức thẩm quyền của nhà khảo cổ học và tập trung vào việc xác định những thành kiến ​​xuất phát từ việc tạo nên giới tính hoặc dân tộc của họ. Một trong những bước phát triển có lợi của phong trào là hướng tới việc tạo ra một ngành khảo cổ học toàn diện hơn, gia tăng số lượng các nhà khảo cổ bản địa trên thế giới, cũng như phụ nữ, cộng đồng LGBT, các cộng đồng địa phương và con cháu của các cộng đồng địa phương đó. Tất cả những điều này đã mang lại sự đa dạng của những cân nhắc mới vào một ngành khoa học vốn bị thống trị bởi những người đàn ông ngoại lai phương Tây da trắng, được đặc quyền.

Phê phán lại những phê phán (Critiques of the Critique)

Tuy nhiên, sự phóng khoáng tuyệt vời của các ý tưởng đã trở thành một vấn đề. Các nhà khảo cổ học người Mỹ Timothy Earle và Robert Preucel cho rằng khảo cổ học triệt để (radical archaeology), không tập trung vào phương pháp nghiên cứu sẽ chẳng đi đến đâu. Họ kêu gọi một phương pháp khảo cổ học hành vi mới (new behavioral archaeology), một phương pháp kết hợp phương pháp tiếp cận quá trình (processual approach) cam kết giải thích sự tiến hóa văn hóa (cultural evolution), nhưng với sự tập trung đổi mới vào cá nhân.

Nhà khảo cổ học người Mỹ Alison Wylie nói rằng khảo cổ học hậu quá trình phải học cách kết hợp sự xuất sắc về phương pháp luận của các nhà khảo cổ học quá trình với tham vọng khám phá cách con người trong quá khứ gắn bó với văn hóa vật chất của họ. Và Randall McGuire người Mỹ đã cảnh báo lại rằng các nhà khảo cổ học hậu quá trình chọn các đoạn trích từ một loạt các lý thuyết xã hội mà không phát triển một lý thuyết chặt chẽ, nhất quán về mặt logic.

Chi phí và lợi ích (The Costs and Benefits)

Các vấn đề được bới ra trong thời kỳ đỉnh cao của phong trào hậu quá trình vẫn chưa được giải quyết, và ngày nay rất ít nhà khảo cổ tự coi mình là những người theo chủ nghĩa hậu quá trình. Tuy nhiên, một điểm phát triển vượt bậc là sự thừa nhận rằng khảo cổ học là một ngành học có thể sử dụng cách tiếp cận theo ngữ cảnh (contextual approach) dựa trên các nghiên cứu dân tộc học để phân tích các bộ hiện vật hoặc biểu tượng và tìm kiếm bằng chứng về các hệ thống tín ngưỡng. Các đối tượng có thể không chỉ đơn giản là tàn tích của hành vi, mà thay vào đó, chúng có thể có một biểu tượng quan trọng mà học ít nhất khảo cổ có thể phát huy tác dụng.

Và thứ hai, sự nhấn mạnh vào tính khách quan, hay đúng hơn là sự thừa nhận tính chủ quan, vẫn chưa lắng xuống. Ngày nay các nhà khảo cổ vẫn suy nghĩ và giải thích tại sao họ lại chọn một phương pháp cụ thể; tạo ra nhiều bộ giả thuyết để đảm bảo rằng chúng không bị đánh lừa bởi một khuôn mẫu; và nếu có thể, hãy cố gắng tìm kiếm sự liên quan đến xã hội. Rốt cuộc, khoa học là gì nếu nó không áp dụng cho thế giới thực?

Tài liệu tham khảo chọn lọc

·       Earle, Timothy K., et al. "Processual Archaeology and the Radical Critique [and Comments and Reply]." Current Anthropology 28.4 (1987): 501–38. Print.

·       Engelstad, Ericka. "Images of Power and Contradiction: Feminist Theory and Post-Processual Archaeology." Antiquity 65.248 (1991): 502-14. Print.

·       Fewster, Kathryn J. "The Potential of Analogy in Post-Processual Archaeologies: A Case Study from Basimane Ward, Serowe, Botswana." The Journal of the Royal Anthropological Institute 12.1 (2006): 61–87. Print.

·       Fleming, Andrew. "Post-Processual Landscape Archaeology: A Critique." Cambridge Archaeological Journal 16.3 (2006): 267-80. Print.

·       Kobylinski, Zbigniew, Jose Luis Lanata, and Hugo Daniel Yacobaccio. "On Processual Archaeology and the Radical Critique." Current Anthropology 28.5 (1987): 680–82. Print.

·       Mizoguchi, Koji. "A Future of Archaeology." Antiquity 89.343 (2015): 12-22. Print.

·       Patterson, Thomas C. "History and the Post-Processual Archaeologies." Man 24.4 (1989): 555–66. Print.

·       Wylie, Alison. "The Reaction against Analogy." Advances in Archaeological Method and Theory 8 (1985): 63–111. Print.

·       Yoffee, Norman and Andrew Sherratt. "Archaeological Theory: Who Sets the Agenda?" Cambridge: Cambridge University Press, 1993.

·       Yu, Pei-Lin, Matthew Schmader, and James G. Enloe. "'I’m the Oldest New Archaeologist in Town': The Intellectual Evolution of Lewis R. Binford." Journal of Anthropological Archaeology 38 (2015): 2–7. Print.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

Khảo cổ học Quá trình (Processual Archaeology)

Ứng dụng Phương pháp Khoa học của Khảo cổ học Mới

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Processual Archaeology." ThoughtCo, Aug. 26, 2020, thoughtco.com/what-is-processual-archaeology-172242. https://www.thoughtco.com/what-is-processual-archaeology-172242

Lược dịch: NHN

Khảo cổ học quá trình là một phong trào giới trí thức những năm 1960, được gọi là "khảo cổ học mới" (new archaeology), ủng hộ chủ nghĩa thực chứng lôgic như một triết lý nghiên cứu hướng dẫn, được mô phỏng theo phương pháp khoa học - một thứ chưa từng được áp dụng cho khảo cổ học trước đây.

Những người theo chủ nghĩa quá trình bác bỏ quan điểm văn hóa-lịch sử vốn cho rằng văn hóa là một tập hợp các chuẩn mực do một nhóm nắm giữ và truyền đạt cho các nhóm khác bằng cách truyền bá và thay vào đó lập luận rằng các dấu tích khảo cổ của một nền văn hóa là kết quả ứng xử của sự thích nghi của một quần thể với các điều kiện môi trường cụ thể. Đã đến lúc Khảo cổ học Mới sẽ tận dụng phương pháp khoa học để tìm ra và làm rõ các quy luật chung (lý thuyết) của sự phát triển văn hóa theo cách mà các xã hội phản ứng với môi trường của họ.

Khảo cổ học mới

Khảo cổ học Mới nhấn mạnh việc hình thành lý thuyết, xây dựng mô hình và kiểm tra giả thuyết trong nghiên cứu nhằm tìm kiếm các quy luật chung về hành vi của con người. Những người theo chủ nghĩa quá trình học lập luận rằng lịch sử văn hóa là không thể lặp lại: việc kể một câu chuyện về sự thay đổi của một nền văn hóa là vô ích trừ khi bạn kiểm tra các suy luận của nó. Làm thế nào để bạn biết một sự kiện lịch sử văn hóa mà bạn đã phục dựng là chính xác? Trên thực tế, bạn có thể nhầm lẫn nghiêm trọng nhưng không có cơ sở khoa học nào để bác bỏ điều đó. Những người theo chủ nghĩa quá trình rõ ràng muốn vượt ra khỏi các phương pháp lịch sử - văn hóa của quá khứ (chỉ đơn giản là xây dựng hồ sơ về những thay đổi) để tập trung vào các quá trình của văn hóa (điều gì đã xảy ra để tạo nên nền văn hóa đó).

Ngoài ra còn có một cách định nghĩa lại ngụ ý văn hóa là gì. Văn hóa trong khảo cổ học quá trình được quan niệm chủ yếu là cơ chế thích ứng cho phép con người đối phó với môi trường của họ. Văn hóa theo quan niệm của khảo cổ học quá trình được xem như một hệ thống bao gồm các hệ thống con, và khung giải thích của tất cả các hệ thống đó là hệ sinh thái văn hóa (cultural ecology), do đó cung cấp cơ sở cho các mô hình giả thuyết suy luận mà những người theo chủ nghĩa quá trình có thể kiểm tra.

Những công cụ mới

Để thành công trong ngành khảo cổ học mới này, các nhà quá trình học đã có hai công cụ: khảo cổ học dân tộc họccác loại kỹ thuật thống kê đang phát triển nhanh chóng, một phần của "cuộc cách mạng định lượng" mà tất cả các ngành khoa học ngày nay đã trải qua và một động lực của "big data" ngày nay. Cả hai công cụ này vẫn hoạt động trong ngành khảo cổ học: cả hai đều được sử dụng đầu tiên trong những năm 1960.

Khảo cổ học dân tộc học là việc sử dụng các kỹ thuật khảo cổ học ở các ngôi làng bị bỏ hoang, các khu định cư và các địa điểm có người sinh sống. Nghiên cứu khảo cổ dân tộc học quá trình cổ điển là cuộc kiểm tra của Lewis Binford đối với các di tích khảo cổ do những người săn bắn và hái lượm di động của người Inuit để lại (1980). Binford rõ ràng đang tìm kiếm bằng chứng về các quá trình lặp lại theo khuôn mẫu, một "biến thể thường xuyên" (regular variability) có thể được tìm kiếm và tìm thấy trên các địa điểm khảo cổ do những người săn bắn hái lượm thuộc thời hậu kỳ đồ đá cũ để lại.

Với phương pháp tiếp cận khoa học mà các nhà quá trình học mong muốn, họ cần rất nhiều dữ liệu để kiểm tra. Khảo cổ học quá trình ra đời trong cuộc cách mạng định lượng, bao gồm sự bùng nổ của các kỹ thuật thống kê tinh vi được thúc đẩy bởi sức mạnh tính toán ngày càng tăng và khả năng tiếp cận chúng ngày càng tăng. Dữ liệu được thu thập bởi các nhà quá trình học (và vẫn tiếp tục thực hiện cho đến ngày nay) bao gồm cả các đặc điểm văn hóa vật chất (như kích thước, hình dạng và vị trí hiện vật) và dữ liệu từ các nghiên cứu dân tộc học về quá trình hình thành và di chuyển dân số đã biết trong lịch sử. Những dữ liệu đó được sử dụng để xây dựng và cuối cùng kiểm tra khả năng thích nghi của một nhóm sống trong các điều kiện môi trường cụ thể và qua đó để giải thích các hệ thống văn hóa thời tiền sử.

Chuyên ngành phụ

Những người theo chủ nghĩa quá trình quan tâm đến các mối quan hệ động-dynamic relationships (nguyên nhân và tác động) hoạt động giữa các thành phần của một hệ thống hoặc giữa các thành phần của hệ thống và môi trường. Quá trình theo định nghĩa là sự lặp đi lặp lại: đầu tiên, nhà khảo cổ học quan sát các hiện tượng trong ghi chép khảo cổ học hoặc dân tộc học, sau đó họ sử dụng những quan sát đó để hình thành giả thuyết rõ ràng về mối liên hệ của dữ liệu đó với các sự kiện hoặc điều kiện trong quá khứ có thể gây ra những hiện tượng đã quan sát. Tiếp theo, nhà khảo cổ học sẽ tìm ra loại dữ liệu nào có thể hỗ trợ hoặc bác bỏ giả thuyết đó, và cuối cùng, nhà khảo cổ học sẽ thu thập thêm dữ liệu và tìm hiểu xem giả thuyết có hợp lệ hay không. Nếu nó hợp lệ cho một địa điểm hoặc hoàn cảnh, giả thuyết đó có thể được kiểm tra ở một địa điểm hoặc hoàn cảnh khác.

Việc tìm kiếm các quy luật chung nhanh chóng trở nên phức tạp, bởi vì có quá nhiều dữ liệu và quá nhiều biến tùy thuộc vào những gì nhà khảo cổ học đã nghiên cứu. Một cách nhanh chóng, các nhà khảo cổ học tìm thấy mình trong các chuyên ngành phụ có khả năng ứng phó: khảo cổ học không gian (spatial archaeology) xử lý các mối quan hệ không gian ở mọi cấp độ từ hiện vật đến các mô hình cư trú; khảo cổ học khu vực (regional archaeology) tìm hiểu thương mại và trao đổi trong một khu vực; khảo cổ học xen kẽ (intersite archaeology) tìm cách xác định và báo cáo về tổ chức chính trị xã hội và sự tồn tại; và khảo cổ học tại chỗ (intrasite archaeology) nhằm tìm hiểu mô hình hoạt động của con người.

Lợi ích và Chi phí của Khảo cổ học Quá trình

Trước khảo cổ học quá trình, khảo cổ học thường không được coi là một khoa học, bởi vì các điều kiện trên một địa điểm hoặc đặc điểm (feature) không bao giờ giống nhau và do đó theo định nghĩa là không thể lặp lại. Những gì các nhà Khảo cổ học Mới (New Archaeologists) đã làm là biến phương pháp khoa học trở nên thực tế trong những hạn chế của nó.

Tuy nhiên, những gì mà các nhà khảo cổ học quá trình phát hiện ra là các địa điểm, nền văn hóa và hoàn cảnh khác nhau quá nhiều trong khi chúng chỉ được giải thích đơn giản là một phản ứng với các điều kiện môi trường. Đó là một nguyên tắc chính thức, nhất thể mà nhà khảo cổ học Alison Wylie gọi là "làm tê liệt đòi hỏi về sự chắc chắn". Phải có những thứ khác đang diễn ra, bao gồm cả những hành vi xã hội của con người không liên quan gì đến việc thích nghi với môi trường.

Những phê phán đối với chủ nghĩa quá trình ra đời từ những năm 1980 được gọi là chủ nghĩa hậu quá trình (post-processualism), đây là một câu chuyện khác nhưng không kém phần ảnh hưởng đến khoa học khảo cổ học ngày nay.

Nguồn tham khảo

·       Binford LR. 1968. Some Comments on Historical versus Processual Archaeology. Southwestern Journal of Anthropology 24(3):267-275.

·       Binford LR. 1980. Willow smoke and dog's tails: Hunter-gatherer settlement systems and archaeological site formation. American Antiquity 45(1):4-20.

·       Earle TK, Preucel RW, Brumfiel EM, Carr C, Limp WF, Chippindale C, Gilman A, Hodder I, Johnson GA, Keegan WF et al. 1987. Processual Archaeology and the Radical Critique [and Comments and Reply]. Current Anthropology 28(4):501-538.

·       Fewster KJ. 2006. The Potential of Analogy in Post-Processual Archaeologies: A Case Study from Basimane Ward, Serowe, Botswana. The Journal of the Royal Anthropological Institute 12(1):61-87.

·       Kobylinski Z, Lanata JL, and Yacobaccio HD. 1987. On Processual Archaeology and the Radical Critique. Current Anthropology 28(5):680-682.

·       Kushner G. 1970. A Consideration of Some Processual Designs for Archaeology as Anthropology. American Antiquity 35(2):125-132.

·       Patterson TC. 1989. History and the Post-Processual Archaeologies. Man 24(4):555-566.

·       Wylie A. 1985. The Reaction against Analogy. Advances in Archaeological Method and Theory 8:63-111.

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2021

Khảo cổ học dân tộc học: Sự kết hợp giữa Nhân học văn hóa và Khảo cổ học

Ethnoarchaeology: Blending Cultural Anthropology and Archaeology

Cập nhật ngày 30 tháng 1 năm 2019, bởi K. Kris Hirst,

Nguồn: Hirst, K. Kris. "Ethnoarchaeology: Blending Cultural Anthropology and Archaeology." ThoughtCo, Aug. 25, 2020, thoughtco.com/ethnoarchaeology-cultural-anthropology-archaeology-170805. https://www.thoughtco.com/ethnoarchaeology-cultural-anthropology-archaeology-170805

Lược dịch: NHN

Nhà khảo cổ học đang làm gì trong lĩnh vực nhân học?

Khảo cổ dân tộc học là một kỹ thuật nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng thông tin từ các nền văn hóa sống (living cultures) — dưới dạng dân tộc học (ethnology/ethnography), lích sử dân tộc học (ethnohistory) và khảo cổ học thực nghiệm (experimental archaeology) — để hiểu các mẫu hoa văn được tìm thấy tại một địa điểm khảo cổ. Một nhà Khảo cổ dân tộc học thu thập bằng chứng về các hoạt động đang diễn ra trong bất kỳ xã hội nào và sử dụng các nghiên cứu đó để mô tả sự tương đồng của những hành vi thời hiện đại nhằm giải thích và hiểu rõ hơn về các mẫu hoa văn được thấy trong các địa điểm khảo cổ.

Nhà khảo cổ học người Mỹ Susan Kent đã định nghĩa mục đích của khảo cổ dân tộc học là "xây dựng và kiểm tra các phương pháp, giả thuyết, mô hình và lý thuyết có định hướng và / hoặc có nguồn gốc khảo cổ học với dữ liệu dân tộc học." Nhưng chính nhà khảo cổ học Lewis Binford đã viết rõ ràng nhất: Khảo cổ dân tộc học là một "viên đá Rosetta: một cách phiên dịch các vật chất tĩnh được tìm thấy trên một địa điểm khảo cổ thành cuộc sống sôi động của một nhóm người trên thực tế đã bỏ lại chúng ở đó."

Khảo cổ dân tộc học Thực hành

Khảo cổ dân tộc học thường được tiến hành bằng cách sử dụng các phương pháp nhân học văn hóa như “quan sát tham gia” (participant observation), nhưng nó cũng tìm thấy dữ liệu hành vi trong các báo cáo dân tộc học và lịch sử dân tộc học cũng như lịch sử truyền miệng. Yêu cầu cơ bản là dựa trên bất kỳ bằng chứng chắc chắn nào để mô tả các hiện vật và tương tác của chúng với con người trong các hoạt động.

Dữ liệu dân tộc học có thể được tìm thấy trong các mô tả bằng văn bản đã hoặc chưa được xuất bản (tài liệu lưu trữ, ghi chép thực địa, v.v.); ảnh chụp; lịch sử truyền miệng; bộ sưu tập hiện vật công hoặc tư nhân; và tất nhiên, từ những quan sát có chủ ý thực hiện cho mục đích khảo cổ học về một xã hội sống. Nhà khảo cổ học người Mỹ Patty Jo Watson cho rằng khảo cổ dân tộc học cũng nên bao gồm khảo cổ thực nghiệm (experimental archaeology). Trong khảo cổ học thực nghiệm, nhà khảo cổ tạo ra tình huống để được quan sát thay vì đưa nó đến nơi mà họ tìm thấy: các quan sát vẫn được thực hiện từ các biến số liên quan đến khảo cổ học trong một bối cảnh sống cụ thể.

Hướng tới một khảo cổ học phong phú hơn

Khả năng Khảo cổ dân tộc học mang lại vô số ý tưởng về những gì các nhà khảo cổ có thể nói về các hành vi được thể hiện trong hồ sơ khảo cổ: và một thực tế tương ứng về khả năng của các nhà khảo cổ học để nhận ra tất cả hoặc thậm chí bất kỳ hành vi xã hội nào diễn ra trong một nền văn hoá cổ đại. Những hành vi đó phải được phản ánh trong văn hóa vật chất (Tôi làm ra cái nồi bằng cách này bởi vì mẹ của tôi tạo ra nó bằng cách này; Tôi đã đi 50 dặm để lấy loại cỏ này vì đó là nơi chúng tôi vẫn luôn đi). Nhưng sự thực cơ bản đó chỉ có thể được xác định từ phấn hoa và các mảng gốm vỡ nếu các kỹ thuật cho phép nắm bắt và diễn giải cẩn thận phù hợp với hoàn cảnh.

Nhà khảo cổ học Nicholas David đã mô tả vấn đề khá rõ ràng: khảo cổ dân tộc học là một nỗ lực nhằm vượt qua ranh giới giữa trật tự lý tưởng (những ý tưởng khó quan sát, giá trị, chuẩn mực không thể quan sát được và sự thể hiện của trí tuệ con người) và thứ tự hiện tượng (các hiện vật, những thứ bị ảnh hưởng bởi hành động của con người và phân biệt bởi vật chất, hình thức và ngữ cảnh).

Các cuộc tranh luận về quá trình và hậu quá trình

Nghiên cứu Khảo cổ dân tộc học đã làm mới nghiên cứu khảo cổ học khi khoa học bước vào thời đại khoa học sau Thế chiến thứ hai. Thay vì chỉ đơn giản là tìm ra những cách tốt hơn để đo đạc, tìm kiếm nguồn và kiểm tra các hiện vật (hay còn gọi là khảo cổ quá trình/ processual archaeology), các nhà khảo cổ học cảm thấy giờ đây họ có thể đưa ra giả thuyết về các loại hành vi mà các hiện vật đó biểu hiện (hay còn gọi là khảo cổ học sau quá trình/post-processual archaeology). Cuộc tranh luận đó đã phân cực giới chuyên môn trong phần lớn những năm 1970 và 1980: và rõ ràng là trận đấu không đầy đủ khi các cuộc tranh luận kết thúc.

Có một điều, khảo cổ học với tư cách là một nghiên cứu lịch đại (diachronic) — một địa điểm khảo cổ đơn lẻ luôn bao gồm bằng chứng về tất cả các sự kiện và hành vi văn hóa có thể đã diễn ra tại địa điểm đó trong hàng trăm hoặc hàng nghìn năm, chưa kể đến những điều tự nhiên đã xảy ra với nó trong thời gian đó. Ngược lại, dân tộc học có tính đồng đại (synchronic)- những gì đang được nghiên cứu là những gì xảy ra trong quá trình nghiên cứu. Và luôn có sự không chắc chắn tiềm ẩn này: liệu các kiểu hành vi được thấy trong các nền văn hóa hiện đại (hoặc lịch sử) có thực sự được khái quát hóa cho các nền văn hóa khảo cổ cổ đại hay không, và bao nhiêu?

Lịch sử của ngành Dân tộc học

Dữ liệu dân tộc học đã được một số nhà khảo cổ học cuối thế kỷ 19/đầu thế kỷ 20 sử dụng để tìm hiểu các địa điểm khảo cổ (Edgar Lee Hewett ghi nhớ), nhưng nghiên cứu hiện đại bắt nguồn từ sự bùng nổ sau chiến tranh, những năm 1950 và 60. Bắt đầu từ những năm 1970, các tài liệu nghiên cứu phát triển mạnh mẽ khám phá những tiềm năng của phương pháp này (cuộc tranh luận về Quá trình/Hậu quá trình thúc đẩy phần lớn điều đó). Có một số bằng chứng, dựa trên sự giảm số lượng các lớp học và chương trình đại học, rằng khảo cổ dân tộc học, mặc dù là một phương pháp thực hành được chấp nhận và có lẽ là tiêu chuẩn cho hầu hết các nghiên cứu khảo cổ học vào cuối thế kỷ 20, nhưng tầm quan trọng trong của nó đang mờ nhạt trong thế kỷ 21.

Phê bình hiện đại

Kể từ những hoạt động đầu tiên của nó, khảo cổ dân tộc học thường bị chỉ trích vì một số vấn đề, chủ yếu là vì những giả định cơ bản về mức độ các hoạt động của một xã hội sống có thể phản ánh về một quá khứ xa xưa. Gần đây, các học giả như nhà khảo cổ Olivier Gosselain và Jerimy Cunningham đã lập luận rằng các học giả phương Tây bị che mờ bởi những giả định về các nền văn hóa sống. Đặc biệt, Gosselain lập luận rằng khảo cổ dân tộc học không áp dụng cho thời tiền sử vì nó không được thực hành như dân tộc học - nói cách khác, bạn không thể đơn giản thu thập dữ liệu kỹ thuật để áp dụng đúng các khuôn mẫu văn hóa có nguồn gốc từ những người vẫn còn sống.

Nhưng Gosselain cũng lập luận rằng việc thực hiện một nghiên cứu dân tộc học đầy đủ sẽ không phải là việc sử dụng thời gian hữu ích, vì đánh đồng các xã hội ngày nay sẽ không bao giờ đủ áp dụng cho quá khứ. Ông cũng nói thêm rằng mặc dù Khảo cổ dân tộc học có thể không còn là một cách hợp lý để tiến hành nghiên cứu, nhưng lợi ích chính của nghiên cứu là thu thập được một lượng lớn dữ liệu về kỹ thuật sản xuất và phương pháp luận, có thể được sử dụng như một bộ sưu tập tham khảo cho học thuật.

Nguồn tham khảo lựa chọn

·       Cunningham, Jerimy J., and Kevin M. McGeough. "The Perils of Ethnographic Analogy. Parallel Logics in Ethnoarchaeology and Victorian Bible Customs Books." Archaeological Dialogues 25.2 (2018): 161–89. Print.

·       González-Urquijo, J., S. Beyries, and J. J. Ibáñez. "Ethnoarchaeology and Functional Analysis." Use-Wear and Residue Analysis in Archaeology. Eds. Marreiros, João Manuel, Juan F. Gibaja Bao and Nuno Ferreira Bicho. Manuals in Archaeological Method, Theory and Technique: Springer International Publishing, 2015. 27–40. Print.

·       Gosselain, Olivier P. "To Hell with Ethnoarchaeology!" Archaeological Dialogues 23.2 (2016): 215–28. Print.

·       Kamp, Kathryn, and John Whittaker. "Editorial Reflections: Teaching Science with Ethnoarchaeology and Experimental Archaeology." Ethnoarchaeology 6.2 (2014): 79–80. Print.

·       Parker, Bradley J. "Bread Ovens, Social Networks and Gendered Space: An Ethnoarchaeological Study of Tandir Ovens in Southeastern Anatolia." American Antiquity 76.4 (2011): 603–27. Print.

·       Politis, Gustavo. "Reflections on Contemporary Ethnoarchaeology." Pyrenae 46 (2015). Print.

·       Schiffer, Michael Brian. "Contributions of Ethnoarchaeology." The Archaeology of Science. Vol. 9. Manuals in Archaeological Method, Theory and Technique: Springer International Publishing, 2013. 53–63. Print.

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Artifacts, Ecofacts, Features, and Sites: A Lesson in Archaeological Jargon

Going through a museum, it is easy for me to get lost in excitement and wonder over the amazing archaeological displays. Every time I visit an exhibit, I find myself glimpsing into the worlds of the Inca, the Olmec, or the ancient Hindus in Southeast Asia by standing face to face with items that outdate me by thousands of years. Likewise, when I visit an archaeological site, like the Pecos ruins in New Mexico, I am in awe of the history, the creativity, and the cultural significance that surrounds me.
Surely, I am not alone in this feeling of wonderment. It is human nature to be curious about humankind’s past, have an interest in exploring cultures different from our own, and see what previous generations were like and what they left behind.
But what are we looking at when we see these archaeological displays of grandeur either within the halls of museums or out in the natural world? To my surprise, when I first began to study the field of archaeology, I learned that there are classifications for findings. These classifications – artifacts, ecofacts, features, and sites – can help us understand what we are looking at and apply context that enriches the experience of observing archaeological findings. Through this blog, OKPAN offers a break down and explanation for these terms so that the next time you are marveling at an archaeological find, you will be able to classify what you are observing!
Artifacts
“Artifacts” is the archaeological term most recognized by the general public. The word is freely tossed around in pop-culture references and conversation. But what qualifies an object as an artifact? An artifact is any portable object that was made or modified by humans and is at least 50 years old. Examples of artifacts would include stone projectile points, pottery, carvings, bone, and much more! Equally important as classifying an artifact is asking the right questions about it. According to the Smithsonian Institute, there are five suggested ways to think about an artifact:
Artifacts tell their own stories.
Artifacts connect people.
Artifacts mean many things.
Artifacts capture moments.
Artifacts reflect changes.
The next time you find yourself looking at artifacts in a museum or in the field, keep these points in mind and think about artifacts in a new way!
 Ecofacts
Ecofacts, like artifacts, are portable findings. However, an ecofact is defined as a natural object, like bone and plant remains, that assist archaeologists in grasping a deeper context for the environment and habits of the people who lived there. To distinguish an ecofact from an artifact, ask yourself if the object was modified by humans, or if it is in a natural state. For example, consider bison bone. If a bison bone  found in an archaeological context is unmodified, it is an ecofact. However, if the bone, such as a shoulder blade, was modified by humans for use as a gardening hoe, then the bone is instead an artifact!
 Features
Features are different from artifacts, because unlike items such as spear points or potsherds, features cannot be transported or moved. Some examples of features would be Puebloan kivas, hearths, or post molds – places where house posts once stood. Features are still clearly modified by humans, but their ability to be transported for analysis is the key difference. Features often contain artifacts, ranging from ceremonial objects, spear points, ancient household objects, and many more!
Sites
 Finally, there are archaeological sites. Unlike artifacts, ecofacts, and features, sites are not individual items. Sites are an archaeological conglomeration of artifacts, ecofacts, and features. A site is the location of archaeological findings, and examples include cemeteries, villages, cliff dwellings, and much more! Some North American sites like Cahokia or Chichen Itza are easily visible today, but most are buried deep within the ground. Archaeologists diligently survey the land to locate these buried sites, and when one is found, it’s time for the fun part – excavation!


Understanding the key classifications amongst archaeological findings is an important tool in analysis. In Oklahoma, examples of artifacts and ecofacts can be found at the Sam Noble Museum of Natural History, in Norman, the Museum of the Great Planes in Lawton, and many other institutions. If features and sites are of interest to you, plan a visit to the Spiro Mound site, which is the only prehistoric site in Oklahoma open to the public.

Source: https://okpublicarchaeology.wordpress.com/2017/08/23/artifacts-ecofacts-features-and-sites-a-lesson-in-archaeological-jargon/ 



Ký hiệu AD, BC, CE và BCE, BP nghĩa là gì khi đi kèm năm thời gian
AD and BC
You sometimes see years written with AD or BC, like this:
2000 AD
450 BC
What does it mean?
AD is AFTER Jesus Christ was born.
BC is BEFORE Jesus Christ was born.
AD stands for the Latin Anno Domini meaning “In the year of Our Lord”.
BC stands for Before Christ.
BC is always written after the year. AD may be written before the year or (modern style) after the year. If a year is shown without AD or BC, it is usually AD.
This practice was first suggested in the sixth century A.D., and was adopted by the pope of that time. It took quite a while for it to become a worldwide standard, however. Russia and Turkey, for example, did not convert to the modern calendar and year scheme until the 20th century.
AD and BC
Here are some examples going back in time:
The Second World War ended in 1945.
The Gregorian calendar was introduced in 1582 AD.
Vesuvius erupted in AD 79 and Pompeii was buried under ash.
Jesus Christ was thought to have been born in AD 1.
But he was probably born a few years earlier, around 5 BC.
Julius Caesar was assassinated in 44 BC.
In 71 BC Spartacus was defeated by the Romans.
Rome was founded in 753 BC.
The Great Pyramid was completed in Egypt more than 4,500 years ago, around 2566 BC.
Evidence of the creation and use of pottery earlier than 17,000 BC has been found in China.
CE and BCE
You sometimes see CE and BCE instead of AD and BC. They are relatively new terms that mean the same as AD and BC.
CE stands for “Common Era” and is the same as AD.
BCE stands for “Before Common Era” and is the same as BC.
Look at these examples:
Genghis Khan died in 1227 CE. [same as 1227 AD]
Rome was founded in 753 BCE. [same as 753 BC]
Lưu ý:
Việc đưa ra ý tưởng dùng CE và BCE thay thế cho AD và BC là xuất phát từ những người không theo Cơ đốc giáo (non-Christians). Đây là chủ để được tranh cãi rất gay gắt giữa các nhóm tôn giáo với nhau và cả với nhóm phi tôn giáo.  Cũng không có gì là lạ. Các vấn đề liên quan tới tôn giáo (và đi kèm theo đó là ảnh hưởng của nó trên toàn cầu) luôn diễn ra rất “khốc liệt”, không chỉ trước đây mà ngay bây giờ cũng vẫn thế, không khá hơn tý nào. Xem thêm ở đây.
Vì vậy, tốt nhất là cứ giả vờ không biết mà dùng AD và BC cho lành.
BP
“BP – Before Present” means before 1950. The most commonly used convention in radiocarbon dating. “Present” referring to the year 1950 AD. 1950 is the date that the calibration curves were established. It also predates atmospheric testing of the atom bomb, which significantly upset C12/C14 ratios in the following years.
Example: If a radiocarbon lab reports an age of 13000 years BP, they are implying that the fossil would have died 13000 years before 1950 AD.

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

What is the Difference Between the Theoretical and the Conceptual Framework?


Many students, both in the undergraduate and graduate levels, have difficulty discriminating the theoretical from the conceptual framework. This requires a good understanding of both frameworks in order to conduct a good investigation. This article explains the two concepts in easily understandable language. Read on to find out.
Many graduating college students and even graduate students have difficulty coming up with the conceptual framework and the theoretical framework of their thesis, a required section in thesis writing that serves as the students' map on their first venture into research. The conceptual framework is almost always confused with the theoretical framework of the study.
What is the difference between the conceptual and the theoretical framework?
A conceptual framework is the researcher’s idea on how the research problem will have to be explored. This is founded on the theoretical framework, which lies on a much broader scale of resolution. The theoretical framework dwells on time tested theories that embody the findings of numerous investigations on how phenomena occur.
The theoretical framework provides a general representation of relationships between things in a given phenomenon. The conceptual framework, on the other hand, embodies the specific direction by which the research will have to be undertaken. Statistically speaking, the conceptual framework describes the relationship between specific variables identified in the study. It also outlines the input, process and output of the whole investigation. The conceptual framework is also called the research paradigm.
Examples of the Theoretical and the Conceptual Framework
The difference between theoretical framework and conceptual framework can be further clarified by the following examples on both concepts:
  • Theoretical Framework: Stimulus elicits response.
  • Conceptual Framework: New teaching method improves students’ academic performance
Notice in the illustrative example that the theoretical framework basically differs from the conceptual framework in terms of scope. The theoretical framework describes a broader relationship between things. When stimulus is applied, response is expected. The conceptual framework is much more specific in defining this relationship. The conceptual framework specifies the variables that will have to be explored in the investigation. In this example, the variable “teaching method” represents stimulus while the “students’ academic performance” represents the response. The variables make clear the kind of statistical treatment that will have to be used to analyze the relationship.
How can students come up with their theoretical and conceptual framework?
In order to come up with their own set of theoretical and conceptual framework that will guide the conduct of the research, students have to review literature pertaining to their chosen research topic. Students need to read a lot and find out what has been studied so far in their respective fields and come up with their own synthesis of the literature. They should look for gaps in knowledge and identify what questions need to be answered or what problems need to be given solutions. Thus, they will be able to formulate their own conceptual framework to serve as guide in their research venture.


For more information on examples of variables, visit simplyeducate.me, a free website devoted to research and statistics topics.
©Patrick Regoniel 29 August 2010 The Theoretical Framework | The Conceptual Framework
Source: https://college-college-life.knoji.com/what-is-the-difference-between-the-theoretical-framework-and-the-conceptual-framework/ 









NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG THIẾT KẾ MỘT DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ngô Quý Nhâm
Trong quá trình triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, việc thiết kế một một kế hoạch tổng thể cho dự án nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quá trình nghiên cứu sẽ tìm ra câu trả lời có giá trị cho câu hỏi nghiên cứu đặt ra. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trình bày những vấn đề cơ bản nhất trong quá trình thiết kế một dự án nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh. Bài viết bắt đầu bằng việc làm rõ các yếu tố chính của một dự án nghiên cứu khoa học. Trong các phần tiếp theo, bài viết sẽ lần lượt thảo luận các nội dung của một dự án nghiên cứu gồm mục đích và câu hỏi nghiên cứu, xác định phương pháp tiếp cận và chiến lược nghiên cứu, lựa chọn các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Nghiên cứu khoa học và thiết kế dự án nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là quá trình lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống bằng việc sử dụng hai công cụ vô cùng quan trọng: dữ liệu thực nghiệm và lý thuyết. Trong khoa học, sức mạnh của dữ liệu thực nghiệm được thừa nhận và các ý tưởng phải được kiểm nghiệm bằng dữ liệu. Để giải thích, diễn giải dữ liệu, người ta phải sử dụng đến lý thuyết. Mục đích của lý thuyết là để diễn giải dữ liệu chứ không chỉ thu thập dữ liệu và cũng không chỉ để sử dụng dữ liệu để mô tả sự vật hiện tượng. Do vậy, lý thuyết diễn giải đóng vai trò trung tâm trong khoa học. Nói một cách đơn giản, “nghiên cứu khoa học chính là việc thu thập dữ liệu về thế giới, xây dựng các lý thuyết để giải thích dữ liệu và sau đó kiểm nghiệm các lý thuyết này dựa trên các dữ liệu thu thập tiếp theo” (Punch, 2005, p.8).
Nghiên cứu khoa học liên quan đến quá trình thiết lập các câu hỏi nghiên cứu, vấn đề hay giả thiết nghiên cứu, thu thập dữ liệu hoặc bằng chứng liên quan tới những câu hỏi nghiên cứu, vấn đề hay giả thiết đó và phân tích hoặc giải thích dữ liệu (Neuman, 1994). Khi bắt tay vào nghiên cứu, nghiên cứu viên sẽ phải lập một kế hoạch tổng thể cho dự án nghiên cứu đó.
Như vậy, bản thiết kế dự án nghiên cứu (research design) được hiểu là một kế hoạch tổng thể cho một dự án nghiên cứu trong đó đề cập đến các vấn đề trong lập kế hoạch và triển khai một dự án nghiên cứu.  Theo Robson (2002), bản thiết kế một dự án nghiên cứu gồm có năm nội dung chủ yếu:
·        Xác định mục đích nghiên cứu: Việc đầu tiên nghiên cứu viên phải xác định rõ là nghiên cứu này sẽ đạt được cái gì? Tại sao vấn đề phải được nghiên cứu? Người nghiên cứu muốn tìm cách mô tả cải gì, hoặc giải thích hoặc tìm hiểu điều gì? Nghiên cứu này được thực hiện để tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề gì?
·        Xác định lý thyết nghiên cứu: Lý thuyết nào sẽ được sử dụng làm định hướng cho quá trình nghiên cứu? Chúng ta sẽ hiểu hoặc diễn giải kết quả nghiên cứu như thế nào? Khung (lý thuyết) khái quát nào sẽ liên kết các hiện tượng mà ta nghiên cứu?
·        Xác định câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu tìm kiếm lời giải cho câu hỏi nghiên cứu nào? Chúng ta cần biết gì để thực hiện các mục đích nghiên cứu? Mức độ khả thi của câu hỏi nghiên cứu với nguồn lực và thời gian đã xác định?
·        Xác định phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Kỹ thuật cụ thể nào (phỏng vấn? quan sát? Khảo sát?) sẽ được sử dụng để thu thập dữ liệu? Dữ liệu sẽ được phân tích như thế nào? Làm thế nào để chứng minh rằng dữ liệu thu được là đáng tin cậy?
·        Chiến lược lấy mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu viên phải trả lời câu hỏi họ sẽ thu thập dữ liệu từ ai? ở đâu? Khi nào? Làm thể nào để có thể  cân bằng giữa việc chọn lọc dữ liệu và việc thu thập tất cả các dữ liệu yêu cầu?
Tương tự, Punch (2005) chỉ ra rằng một bản thiết kế dự án nghiên cứu bao gồm bốn vấn đề: chiến lược nghiên cứu; khung nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu (ai hoặc cái gì) và công cụ được sử dụng để thu thập và phân tích các dữ liệu thực nghiệm.
Cho dù cách hiểu về bản thiết kế một dự án nghiên cứu như thế nào thì nguyên tắc chung là mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thu thập xử lý dữ liệu phải nhất quán với nhau. Nếu như câu hỏi nghiên cứu không gắn với mục đích nghiên cứu thì nghiên cứu viên phải thay đổi một trong hai – thông thường là câu hỏi nghiên cứu sẽ phải thay đổi. Nếu câu hỏi nghiên cứu không gắn với lý thuyết, có khả năng nghiên cứu viên sẽ không tìm ra được câu trả lời có giá trị. Khi đó, lý thuyết cần phải được xây dựng hoặc câu hỏi nghiên cứu cần phải thay đổi. Nếu phương pháp thu thập xử lý dữ liệu và/hoặc chiến lược không đưa ra được câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thì cần phải có sự thay đổi. Nghiên cứu viên phải thu thập them dữ liệu, mở rộng mẫu điều tra hoặc cắt giảm hoặc thay đổi câu hỏi nghiên cứu (Robson, 2002).

Trong phần tiếp theo, bài viết sẽ tập trung vào làm rõ việc lựa câu hỏi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận nghiên cứu và chiến lược nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu.
Xác định mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Tất cả các nghiên nghiên cứu đều được định hướng bởi các câu hỏi nghiên cứu, đến lượt mình các câu hỏi nghiên cứu được xác định từ mục đích nghiên cứu của đề tài. Mục đích nghiên cứu chính là câu hỏi khái quát, còn câu hỏi nghiên cứu(research question)  là các câu hỏi cụ thể trong nghiên cứu. Như đã đề cập ở trên, mục đích nghiên cứu của một dự án nghiên cứu trả lời câu hỏi công trình nghiên cứu được triển khai sẽ đạt được cái gì? Tại sao vấn đề phải được nghiên cứu?  Mục đích nghiên cứu đưa ra một định hướng chung cho dự án nghiên cứu, đặc biệt là việc xác định câu hỏi nghiên cứu một cách rõ ràng hơn.
Câu hỏi nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức dự án nghiên cứu, đưa ra định hướng nghiên cứu và sự gắn kết của toàn bộ nghiên cứu, xác lập giới hạn/phạm vi của dự án nghiên cứu. Đồng thời, câu hỏi nghiên cứu sẽ giúp giữ sự tập trung của nghiên cứu viên vào dự án nghiên cứu. Đặc biệt, câu hỏi nghiên cứu xác định khuôn khổ để viết và hoàn tất dự án nghiên cứu cũng như chỉ ra các dữ liệu cần phải thu thập. Một cách để xác định câu hỏi nghiên cứu là xác định các lĩnh vực và chủ đề nghiên cứu (mục đích nghiên cứu), sau đó phát triển các câu hỏi trong phạm vi và chủ đề đó. Cách ngược lại là bắt đầu bằng một số câu hỏi cụ thể, sau đó quay lại phát triển mục đích nghiên cứu.
Một cách thể hiện vấn đề nghiên cứu là sử dụng các giả thiết nghiên cứu. Giả thiết nghiên cứu được định nghĩa một cách đơn giản là câu trả lời trước cho câu hỏi nghiên cứu. Việc nói rằng chúng ta có một giả thiết nghiên cứu có nghĩa là chúng ta có thể dự báo được những gì chúng ta có thể tìm khi trả lời một câu hỏi. Như vậy một câu hỏi nghiên cứu cho biết chúng ta phải tìm ra vấn đề gì, còn một giả thiết nghiên cứu dự đoán lời giải cho câu hỏi đó. Quá trình triển khai nghiên cứu gắn với các giả thiết chính là việc thu thập và xử lý dữ liệu để chứng minh chấp nhận hay bác bỏ giả thiết.
Xác định phương pháp tiếp cận: nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Trong nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp tiếp cận có thể chia thành hai hướng tiếp cận tổng quát: nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính (Saunders, 2003). Tùy thuộc vào mục đích và câu hỏi nghiên cứu, nghiên cứu viên phải xác định phương pháp tiếp cận và chiến lược nghiên cứu phù hợp.
Phương pháp tiếp cận định lượng (Quantitative Approach hay Fixed Design) là cách tiếp cận liên quan đến việc nghiên cứu thực nghiệm mang tính hệ thống các thuộc tính định lượng, hiện tượng và quan hệ giữa chúng. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến phương pháp nghiên cứu có cấu trúc chặt chẽ nhằm thúc đẩy quá trình lặp lại nghiên cứu (trong các tình huống, bối cảnh khác nhau) (Gill và Johnson, 1997) và những quan sát có thể định lượng được sử dụng cho phân tích thống kê. Kết quả nghiên cứu có thể được khái quát hóa thành dạng quy luật, tương tự như kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học vật lý và tự nhiên.
Bản chất của phương pháp nghiên cứu định lượng gợi mở rằng việc thu thập dữ liệu sẽ cho các dữ liệu dạng số và được tiêu chuẩn hóa và việc nghiên cứu được thực hiện thông qua các biểu đồ và toán thống kê (Saunder, 2003). Vì vậy, trong lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh và quản trị nghiên cứu định lượng thường không cho người nghiên cứu cái nhìn sâu sắc về các vấn đề phức tạp (Remenyi, 2005).
Phương pháp tiếp cận định tính (Qualitative Approach/Flexible) là cách tiếp cận trong đó nghiên cứu viên tìm hiểu hành vi, động cơ và ý đồ đối tượng nghiên cứu (con người) và những lý do điều khiển những hành vi đó (Sounder et al., 2003). Sự khác biệt cơ bản giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng là phương pháp nghiên cứu định tính tập trung vào quá trình thay vì kết quả, cái tổng thể thay vì các biến độc lập và tập trung vào ý nghĩa hơn là thống kê hành vi (Burns, 2000).
Nghiên cứu định tính gắn với việc thu thập dữ liệu định tính nhưng cũng có thể liên quan đến việc thu thập dữ liệu định lượng. Dữ liệu định tính  dựa trên các ý nghĩa và được diễn đạt bằng lời hay văn bản. Chính vì vậy, dữ liệu thu thập đường thường là phi tiêu chuẩn và phải được phân nhóm và chủ yếu được phân tích theo phương pháp khái quát hóa (Saunders, 2003). Bản chất của nghiên cứu định tính cho thấy nó có thể sử dụng để nghiên cứu, giải thích các vấn đề phức tạp của hoạt động quản lý và kinh doanh. Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của phương pháp này là kết quả nghiên cứu chưa sẵn sàng để suy rộng được (khái quát hóa). Hơn nữa, giới hạn thời gian để nghiên cứu thường là một vấn đề. Tuy nhiên, sự giới hạn này lại cần thiết để xác định giới hạn cho việc thu thập và phân tích dữ liệu (Remenyi et al, 2005).

Sử dụng nghiên cứu đinh tính trong trường hợp
Sử dụng nghiên cứu định lượng trong trường hợp
Chủ đề nghiên cứu mới và chưa được xác định rõ
Chủ đề nghiên cứu đã được xác định rõ và đã quen thuộc
Nghiên cứu thăm dò, khi chưa nắm được những khái niệm và các biến số
Khi những vấn đề cần đo lường khá nhỏ hay đã từng được giải quyết
Khi cần thăm dò sâu, khi muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa những khía cạnh đặc biệt của hành vi với ngữ cảnh rộng hơn
Khi không cần thiết phải liên hệ những phát hiện với các bối cảnh xã hội hay văn hóa rộng hơn hay bối cảnh này đã được hiểu biết đầy đủ
Khi cần tìm hiểu về ý nghĩa, nguyên nhân hơn là tần số
Khi cần sự mô tả chi tiết bằng các con số cho một mẫu đại diện
Khi cần có sự linh hoạt trong hướng nghiên cứu để phát hiện những vấn đề mới và khám phá sâu một chủ đề nào đó
Khi khả năng tiến hành lại sự đo lường là quan trọng
Nghiên cứu sâu và chi tiết những vấn đề được chọn lựa kỹ càng, những trường hợp hoặc các sự kiện
Khi cần khái quát hóa và so sánh kết quả trong quần thể nghiên cứu

Xác định chiến lược nghiên cứu 
Với mỗi phương pháp tiếp cận, nghiên cứu viên phải xác định một chiến lược nghiên cứu phù hợp. Theo Sounders (2003) chiến lược nghiên cứu là một kế hoạch tổng thể mà nghiên cứu viên sẽ bám sát trong quá trình nghiên cứu để trả lời câu hỏi nghiên cứu. Sounders (2003) đã thống kê sáu chiến lược nghiên cứu có thể áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu quản lý và kinh doanh: nghiên cứu tình huống (case study), nghiên cứu lý thuyết (grounded theory), nghiên cứu nhân học (ethnography), và nghiên cứu hành động (action research) nghiên cứu thực nghiệm (experiment) và nghiên cứu mô tả (survey). Trong số đó, nghiên cứu thực nghiệm và mô tả (survey) là các chiến lược dùng tromg phương pháp tiếp cận định lượng và bốn phương pháp còn lại gồm nghiên cứu tình huống, nghiên cứu lý thuyết,  nghiên cứu nhân học và nghiên cứu hành động thường được sử dụng trong phương pháp tiếp cận định tính (Sounders, 2003).
Chiến lược nghiên cứu thực nghiệm là một trong hai chiến lược sử dụng trong phương pháp tiến cận định lượng. Đặc điểm trung tâm của chiến lược này là nghiên cứu viên chủ động đưa ra một vài dạng thay đổi trong tình huống, bối cảnh hoặc kinh nghiệm của những người tham gia nhằm tạo ra những thay đổi mang tính hậu quả trong hành vi của họ (Robson, 2002). Trong nghiên cứu thực nghiệm, người ta tập trung vào đo lường ảnh hưởng của của một biến (biến độc lập) đối với một biến khác (biến phụ thuộc). Các chi tiết của dự án nghiên cứu được cụ thể hóa trước khi việc thu thập dữ liệu chính thức bắt đầu (thông thường có một giai đoạn “thử nghiệm” khi kiểm tra tính khả thi của dự án nghiên cứu và đư ra những thay đổi nếu có). Các đặt điểm của chiến lược nghiên cứu thực nghiệm này gồm: việc nghiên cứu bắt đầu bằng việc lựa chọn mẫu từ tổng thể đã biết và phân bổ mẫu theo các điều kiện thực nghiệm khac nhau; sau đó, chủ động thay đổi một hoặc một số biến và đo lường sự thay đổi của một lượng nhỏ các biến trong khi kiểm soát các biến khác; thông thường nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc kiểm định các giả thiết.
Chiến lược nghiên cứu phi thực nghiệm ( còn gọi là nghiên cứu mô tả -survey strategy) về cơ bản cũng giống như chiến lược nghiên cứu thực nghiệm nhưng người nghiên cứu không thay đổi hay can thiệp vào tình huống, bối cảnh hoặc trải nghiệm của người tham gia. Nói cách khác, hiện tượng được nghiên cứu không thể bị kiểm soát hoặc thay đổi một cách chủ ý bởi người nghiên cứu do bản thân nó không thể thay đổi được (như các đặc điểm cá nhân gồm giới tính, tuổi) hoặc không nên thay đổi vì lý dó đạo đức (như hút thuốc lá, uống rượu) hoặc không khả thi trong điều chỉnh. Nghiên cứu thực nghiệm thường được sử dụng cho mục đích mô tả và vì bản chất cố định và được cụ thể hóa từ trước nên nó không được sử dụng tốt cho nghiên cứu khám phá. Phương pháp này có thể được sử dụng  khi nghiên cứu viên muốn tìm cách giải thích hoặc hiểu biết hiện tượng.
Chiến lược nghiên cứu được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu quản trị là nghiên cứu tình huống. Nghiên cứu tình huống được định nghĩa là một chiến lược nghiên cứu mà nghiên cứu viên sử dụng để điều tra  thực nghiệm một hiện tượng cụ thể trong bối cảnh thực tế với nhiều nguồn dữ liệu (Robson, 2002). Một tình huống trong nghiên cứu có thể là một người, một nhóm, một tổ chức hoặc một trường học.
Chiến lược nghiên cứu có ba đặc điểm rõ rệt. Thứ nhất, chiến lược này liên quan đến việc lựa chọn một tình huống/hiện tượng duy nhất (ví dụ một doanh nghiệp) hoặc một lượng nhỏ các hiện tượng nghiên cứu liên quan (nhóm doanh nghiệp) để nghiên cứu. Thứ hai, chiến lược này tập trung vào sự vật hiện tượng trong một bối cảnh cụ thể. Cuối cùng, chiến lược nghiên cứu này thường gắn với việc sử dụng nhiều phương pháp thu thập dữ liệu và thường mang tính tự nhiên như quan sát, phòng vấn, phân tích tài liệu (Robson, 2002; Saunders et al, 2003). Mặc dù chiến lược nghiên cứu này có thể sử dụng phương pháp tiếp cận định  tính hay định lượng  hoặc cả hai, hầu hết các tình huống nghiên cứu đều sử dụng trong phương pháp tiếp cận định tính.
Vấn đề tranh cãi nhất liên quan đến phương pháp nghiên cứu tình huống là khả năng khái quát hóa – tức là khả năng suy rộng. “Nghiên cứu này chỉ dựa trên một tình huống, vậy làm thế nào có thể suy rộng ra các trường hợp khác?”. Thực tế có hai loại tình huống mà việc suy rộng rẽ không phải là mục tiêu hướng tới. Thứ nhất, tình huống nghiên cứu có thể rất quan trọng, hấp dẫn hoặc bị hiểu sai và vì vậy cần được nghiên cứu một cách đúng nhất. Hoặc cũng có thể tình huống nghiên cứu rất độc đáo ở một phương diện quan trọng nào đó và vì vậy rất đáng đề nghiên cứu. Loại tình huống thứ hai là việc nghiên cứu “tình huống phủ định”. Đây là loại tình huống mà thông thường có khác biệt đáng kể, thậm chí là trái ngược hẳn, với các dạng tình huống phổ biến khác, trên cơ sở đó giải tìm hiểu tại sao có sự khác biệt đó. Ngoài hai tình huống trên, có nhiều nghiên cứu tình huống trong đó nghiên cứu viên có thể muốn tìm điều gì đó có thể ứng dụng rộng hơn. Có hai cách trong đó nghiên cứu tình huống có thể đưa ra các kết quả mà có thể suy rộng. Cả hai cách phụ thuộc vào mục đích của nghiên cứu tình huống và đặc biệt là cách thức dữ liệu được xử lý và phân tích. Cách thứ nhất là bằng khái quát hóa và cách thứ hai là bằng phát triển các mệnh đề (giả thuyết). Trong phương pháp khái quát hóa, dựa vào nghiên cứu một cách chặt chẽ tình huống và sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu trong đó tập trung vào việc khái quán hóa thay vì mô tả hiện tượng, nghiên cứu viên sẽ phát triển một hoặc một vài khái niệm để giải thích các khía cạnh của tình huống nghiên cứu. Để phát triển các mệnh đề, dựa trên các tình huống nghiên cứu, nghiên cứu viên sẽ đưa ra một hoặc một vài mệnh đề - hay còn gọi là giải thuyết – có tác dụng liên kết các khái niệm hoặc nhân tố trong tình huống lại với nhau. Trong cả hai trường hợp, không có một tình huống nào có thể chứng minh khả năng suy rộng các kết quả nghiên cứu. Nhưng chắc chắn nó có thể mở ra khả năng suy rộng, đưa ra những khái niệm hoặc giả thuyết để kiểm nghiệm trong các nghiên cứu tiếp theo (Punch, 2005).
Nghiên cứu nhân học (Ethnography) cũng là một trong những chiến lược nghiên cứu phổ biến nhất trong khoa học xã hội. Khái niệm “nhân học” (enthography) có nguồn gốc từ lĩnh vực nhân chủng học/văn hóa. Robson (2002) định nghĩa “nghiên cứu nhân học” là chiến lược nghiên cứu được sử dụng để thu thập, diễn dịch và giải thích cách thức một nhóm, một tổ chức hoặc một cộng đồng sống hoặc làm việc, trải nghiệm và tìm hiểu cuộc sống và thế giới của họ. Còn Hammersly và Atkinson (1995) nhìn nhận nghiên cứu nhân học là một chiến lược nghiên cứu trong đó người nghiên cứu phải tham gia công khai hoặc ngấm ngầm vào cuộc sống hàng ngày trong một thời gian dài để theo dõi những gì đang xảy ra, nghe những gì được nói, hỏi và thu thập các dữ liệu khác liên quan. Trong nghiên cứu quản lý và kinh doanh, chiến lược này thường được sử dụng để nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp, quá trình hình thành và phát triển nhóm… Để khám phá những vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc như vậy, nghiên cứu viên phải có được cách nhìn của người trong cuộc và vì vậy họ phải quan sát và nghiên cứu nhóm này trong bối cảnh tự nhiên và nhập cuộc vào những gì đang diễn ra.  Không giống như những phương pháp khác, nghiên cứu nhân học thường được nghiên cứu trong tình trạng tự nhiên nhất có thể, không bị cạn thiệp bởi người nghiên cứu. Thông thường, quá trình thu thập dữ liệu thường phải kéo dài vài năm và sẽ phải trải qua một số giai đoạn (Robson, 2002).
Chiến lược nghiên cứu thứ ba là nghiên cứu lý thuyết (Grounded Theory Study). Mặc dù có tên gọi là nghiên cứu lý thuyết nhưng lại không phải là một lý thuyết. Nghiên cứu lý thuyết là một cách tiếp cận, một chiến lược nghiên cứu với mục đích là để phát triển một lý thuyết mới   bằng phương pháp quy nạp trên cơ sở các dữ liệu được thu thập bằng việc quan sát hoặc phỏng vấn (Punch, 2005; Saunders et al., 2003). Theo Robson (2002), chiến lược nghiên cứu lý thuyết có thể cung cấp một quy trình rõ ràng để xây dựng một lý thuyết trong dự án nghiên cứu và để phân tích dữ liệu định lượng. Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng trong đó việc tiếp cận lý thuyết được lựa chọn không rõ ràng hoặc không có.
Một chiến lược nghiên cứu cuối cùng là nghiên cứu hành động (action research). Chiến lược nghiên cứu này thường gắn với việc quản lý một quá trình thay đổi và đòi hỏi sự hợp tác giữa nghiên cứu viên và những người thực hành. Mục đích của nghiên cứu hành động không chỉ là mô tả, hiểu và giải thích hiện tượng/đối tượng nghiên cứu mà còn thay đổi hiện tượng/đối tượng. Nghiên cứu viên phải trực tiếp tham gia vào quá trình thay đổi và cuối cùng ứng dụng tri thức. Do đó, nghiên cứu viên phải dành nhiều thời gian cho việc quan sát, kiểm soát và đánh giá còn người thực hành phải thực hiện toàn bộ quá trình (Saunders et al, 2003). Nghiên cứu hành động có thể được sử dụng trong phương pháp tiếp cận định lượng, tiếp cận định tính hoặc hỗn hợp. Mặc thường gắn với phương pháp tiếp cận và dữ liệu định tính, nghiên cứu hành động không chỉ dựa trên dữ liệu định tính. Ngược lại, dữ liệu định lượng sẽ được sử dụng bất kỳ lúc nào nếu thấy phù hợp và sẵn có (Punch, 2005).
Xác định phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Việc lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu phải phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và chiến lược nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng thường thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi khảo sát (survey/Questionnaire) và phương pháp quan sát, còn nghiên cứu định tính thường sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp  phỏng vấn và phương pháp thu thập  dữ liệu thứ cấp.
Phương pháp khảo sát (survey) là phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu phổ biến nhất dựa trên các bảng hỏi (questionnaire). Việc khảo sát có thể thực hiện bằng cách phỏng vấn (phỏng vấn khảo sát) hoặc gửi thư (bưu điện, email, internet). Đặc điểm chính của phương pháp khảo sát là được sử dụng trong phương pháp tiếp cận định lượng, thu thập một lượng nhỏ dữ liệu dưới định dạng được tiêu chuẩn hóa từ một mẫu tương đối lớn và quá trình chọn mẫu mang tính đại diện từ một tổng thể đã biết. Vì vậy, dữ liệu thu thập được từ khảo sát là dữ liệu dạng số và  quá trình khảo sát (đo lường) là một quá trình các dữ liệu nghiên cứu được chuyển sang dạng số. Với những đặc điểm như vậy, phương pháp khảo sát có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong mắt các nhà nghiên cứu. Một số nhà nghiên cứu còn coi phương pháp này là chiến lược trung tâm. Trong các tình huống phi thực nghiệm mà việc thực nghiệm không khả thi hoặc không đảm bảo về mặt đạo đức, việc khảo sát lại đảm bảo một vùng tin cậy  (Robson, 2002, p230).  Gắn với phương pháp khảo sát là một hệ phức hợp các quan tân về mặt kỹ thuật về xác định mẫu, thiết kế câu hỏi, mã hóa câu trả lời. Ưu điểm nổi bật của phương pháp khảo sát là nó cho cách tiếp cập tương đổi đơn giản trong nghiên cứu hành vi, thái độ, giá trị, niềm tin và động cơ của đối tượng nghiên cứu. Các cuộc khảo sát thường có thể điều chỉnh được để có thể thu thập các thông tin có thể khái quát hóa được từ hầu hết các tổng thể nghiên cứu. Một ưu điểm nữa của phương pháp khảo sát là có thể cho phép thu thập được một lượng lớn các dữ liệu được nghiên cứu.  Tuy nhiên, thu thập dữ liệu bằng khảo sát không phải ít những hạn chế. Dữ liệu thu thập được từ phương pháp khảo sát lại dễ bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của người trả lời (như trí nhớ, kiến thức, kinh nghiệm, động cơ và tính cách. Bên cạnh đó, người trả lời cũng không nhất thiết phải báo cáo niềm tin thái độ của họ một cách chính xác. Nếu khảo sát qua bưu điện hoặc email, tỷ lệ trả lời câu hỏi tương đối thấp. Khi không biết rõ đặc điểm của người trả lời, nghiên cứu viên không thể kết luận được là mẫu có mang tính đại diện không. Cuối cùng, có thể có sự không rõ ràng hoặc hiểu nhầm câu hỏi khảo sát, dữ liệu thu thập được có thể không còn đúng nữa (Robson, 2002).
 Phương pháp quan sát.
Quan sát  là phương pháp thu thập dữ liệu truyền thống bằng việc quan sát, ghi chép, mô tả,  phân tích và diễn giải một cách hệ thống các hiện tượng xã hội được nghiên cứu (Saunders et al, 2003). Có hai phương pháp quan sát khác nhau: quan sát theo phương pháp định lượng và quan sát  định tính. Quan sát theo phương pháp định lượng hay quan sát theo cấu trúc chú trọng đến tần suất của hành động đó (Robson, 2002, Saunders et al, 2003) và việc quan sát được thực hiện theo một cấu trúc chặt chẽ, lịch trình quan sát thường được định trước và thường rất chi tiết. Vì vậy, phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu định lượng. Ngược lại, quan sát theo phương pháp tiếp cận định tính thường không theo cấu trúc định trước và chủ yếu sử dụng trọng nghiên cứu định tính. Nghiên cứu viên không sử dụng các cách phân nhóm thông tin trước mà thường thực hiện quan sát theo cách tự nhiên và mở. Cho dù kỹ thuật ghi lại kết quả quan sát là gì thì hành vi được quan sát dưới dạng chuỗi hành động và sự kiện khi chúng xảy ra (Puch, 2005).
Với phương pháp quan sát theo phương pháp định tính, kỹ thuật Quan sát trong vai trò người tham gia thường được sử dụng. Trong kỹ thuật này, vai trò của nghiên cứu viên thay đổi từ việc quan sát tình huống từ bên cạnh sang vừa là người tham gia  và vừa là người quan sát tình huống. Đây là một phong cách nghiên cứu định tính và chú trọng đến việc khám phá những ý nghĩa mà con người thể hiện qua hành động của họ trong quá trình quan sát (Puch, 2005).  Do nghiên cứu viên tham gia trực tiếp vào hoạt động của đối tượng nghiên cứu, “sống” trong bối cảnh nghiên cứu nên các dữ liệu nghiên cứu thu thập được tin cậy hơn bất cứ phương pháp thu thập dữ liệu nào khác. Tuy nhiên, yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của phương pháp này là nghiên cứu viên phải trở thành thành viên của nhóm hoặc tổ chức quan sát, cố gắng tìm hiểu văn hóa, tập quán của tổ chức.  Nó không chỉ liên quan đến sự hiện diện và chia sẻ kinh nghiệm sống mà còn can dự trực tiếp vào thế giới xã hội của họ (Robson, 2002). Vì vậy, kỹ thuật này thường đòi hỏi một thời gian nghiên cứu dài và nghiên cứu viên phải tiếp cận được với nhóm hoặc tổ chức sẵn sàng cho họ tham gia.
Phỏng vấn.
Phỏng vấn là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu chủ yếu trong nghiên cứu định tính. Phỏng vấn là một phương pháp rất hiệu quả trong đánh giá nhận thức, các ý nghĩa, xác định các tình huống, cấu trúc của hiện tượng nghiên cứu của một người hoặc nhóm người. Đây cũng là một trong những phương pháp mạnh nhất nhất để có được sự thấu hiểu người khác (Punch, 2005).
Phương pháp thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn có nhiều  hình thức và mục đích sử dụng cũng khác nhau. Hình thức phổ biến nhất là đối thoại trực tiếp (mặt đối mặt), cá nhân những cũng có thể là phỏng vấn trực tiếp theo nhóm, qua thư từ hoặc bảng hỏi tự điền thông tin và khảo sát qua điện thoại (Fotana và Frey, 1994).
Phỏng vấn có thể là theo cấu trúc, phỏng vấn nhóm, hoặc phỏng vấn phi cấu trúc. Trong phỏng vấn theo cấu trúc, người được phỏng vấn sẽ được hỏi một chuỗi các câu hỏi được lập sẵn với các nhóm thông tin phản hồi được định trước. Trong quá trình thực hiện phỏng vấn, thường có rất ít cơ hội điều chỉnh mặc dù có sử dụng câu hỏi mở. Tất cả những người tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn được hỏi các câu hỏi tương tự nhau, theo cùng một trình tự và được hỏi một cách chuẩn mực. Trong phương pháp phỏng vấn này, sự linh hoạt được giảm thiểu và thông tin tiêu chuẩn được tối đa hóa. Ngược lại, phương pháp phỏng vấn phi cấu trúc phổ biến là phỏng vấn sâu, sử dụng câu hỏi mở và không được tiêu chuẩn hóa. Phương pháp này thường được sử dụng để nghiên cứu các hành vi phức tạp của con người mà không áp đặt một biện pháp phân nhóm nào trước nếu sự phân loại này làm giới hạn lĩnh vực cần hỏi. Phỏng vấn nhóm thường đề cập đến việc nghiên cứu viên phỏng vấn đồng thời một vài người thay vì một người. Phương pháp phỏng vấn nhóm ban đầu được sử dụng trong nghiên cứu marketing và nghiên cứu chính trị nhưng nay đã trở thành phương pháp phổ biến trong nghiên cứu quản trị và khoa học xã hội. Trong phương pháp phỏng vấn này, nghiên cứu viên có sự thay đổi từ vai trò là người phỏng vấn sang vai trò là người thúc đẩy, cố vấn nhóm. Nghiên cứu viên thực hiện việc khuyến khích, điều tiết, kiểm soát và ghi lại quá trình tương tác, trao đổi của nhóm. Hoạt động tương tác, trao đổi của nhóm sẽ được định hướng bởi các câu hỏi và chủ đề mà nghiên cứu viên đưa ra. Phỏng vấn nhóm nếu được điều phối tốt sẽ thúc đẩy những người tham gia phỏng ván thể hiện quan điểm, nhận thức, động cơ và các lý do – những dữ liệu quan trọng cần thu thập. Phương pháp này không mất nhiều chi phí, giàu dữ liệu, linh hoạt, lý thú và tỉ mỉ. Tuy nhiên, vấn đề có thể nảy sinh do văn hóa và sự năng động của nhóm và trong việc cân bằng quá trình tương tác giữa các thành viên trong nhóm (Fontana và Frey, 1994).
Dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm các văn bản viết như thông báo, biên bản cuộc họp, thư từ, nhật ký, tiểu sử, thông báo của chính phủ, các bản ghi hành chính và báo cáo gửi các cổ đông hoặc đối tượng hữu quan cũng như các tài liệu không phải văn bản như băng ghi âm, phim ảnh, phim và các chương trình truyền hình (Jupp, 1996, Robson, 2002). Đây là nguồn dữ liệu rất phong phú cho nghiên cứu. Một đặc điểm phổ biến hiện nay trong xã hội là có quá nhiều “bằng chứng văn bản”, thường được biên soạn và lưu trữ thường xuyên, tuy nhiên những tài liệu này này thường bị bỏ qua có lẽ vì sử phổ biến của nhiều phương pháp khác (thực nghiệm, khảo sát, phỏng vấn, quan sát). Các nguồn dữ liệu thứ cấp có thể được sử dụng theo các cách khác nhau trong nghiên cứu khoa học xã hội. Một số nghiên cứu có thể dựa hoàn toàn vào các dữ liệu thứ cấp trong khi một số nghiên cứu khác như nghiên cứu tình huống, nghiên cứu lý thuyết có thể sử dụng kết hợp với phương pháp phỏng vấn và quan sát. Khi sử dụng kết hợp với các dữ liệu khác, tài liệu thu thập được có thể rất quan trọng trong phép kiểm tra chéo (triangulation), trong đó một sự kết hợp chéo các phương pháp khác nhau và các loại dữ liệu khác nhau được sử dụng trong một dự án duy nhất. Cuối cùng, các sản phẩm dữ liệu trở nên đặc biệt quan trọng đối với nhà nghiên cứu nhân học vì nó cung cấp một nguồn dữ liệu phong phú cho việc phân tích.
 Tóm lại, việc thiết kế một dự án nghiên cứu phải lấy mục đích và mục tiêu nghiên cứu làm xuất phát điểm và trên cơ sở đó nghiên cứu viên phải lựa chọn phương pháp tiếp cận (định lượng hay định tính) và lựa chọn chiến lược nghiên cứu cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu. Tùy theo mục đích nghiên cứu là phát triển lý thuyết hay kiểm định một lý thuyết/giả thiết, nghiên cứu viên phải lựa chọn kỹ thuật thu thập dữ liệu phù hợp. Sự  nhất quán giữa mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thu thập xử lý dữ liệu là nguyên tắc vàng đảm bảo cho sự thành công của dự án.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Fontana, A và Frey, J.H (1994) “Interview: the art of science”, trong N.K Denzin và Y.S Hammersly, M và Atkinson, P (1995) Ethnography: Principles in Practice. 2nd Edn. London: Routledge.
2.      Lincoln (eds), Handbook of Qualitative Research. Thousand Oaks, CA: Sage, tr 361-76.
3.      Neuman, W.L. (1994) Social Research Methods: Qualitative and Quantitative Approaches(2rd edn), London, Allyn and Bacon.
4.      Punch, Keith (2005) Introduction to Social Research: Quantitative and Qualitative Approaches (2nd Ed) London: Sage Publications
5.      Robson, C. (2002) Real World Research. 2nd ed. Oxford: Blackwell
6.      Saunder, M., Lewis, P. Thornhill, A. (2003) Research Methods for Business Students. (3rd ed) London: FT Prentice Hall.
7.      Yin, R. K (1994), Case Study Research – Design and Methods. Sage Publications, Newbury Park, CA.

Source: https://sites.google.com/site/ngoquynham/tai-nguyen-tri-thuc/nhung-van-dhe-co-ban-trong-thiet-ke-mot-du-an-nghien-cuu-khoa-hoc


Viết và biên tập một bài báo khoa học Hiện nay, nghiên cứu khoa học là sự đòi hỏi cấp thiết của đời sống, là yêu cầu của tất cả các ngành và...